Chương 1.Những vấn đề lý luận về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới và pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới.Thực trạng pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 9 PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án.
Nghiên cứu lý luận về xây dựng nông thôn mới và huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 1. Nghiên cứu lý luận về xây dựng nông thôn mới. Xây dựng NTM ít được nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu pháp luật mà chủ yếu trong các ngành khoa học khác như phân tích chính sách, kinh tế, khoa học quản lý, lịch sử phát triển, kinh tế chính trị, triết học. Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình cần kể đến.
Công trình “Analysis of “Saemaul ungdong” A Korean Rural Development Programme in the 1970s” (Phân tích của Saemaul ungdong: chương trình phát triển nông thôn của Hàn Quốc trong những năm 1970) của tác giả Sooyoung Park (Tạp chí Phát triển Châu Á- Thái Bình Dương. Tập 16, số 2, tháng 12 năm 2009) rất đáng chú ý. Trong công trình này, tác giả phân tích, đánh giá thành công của mô hình NTM “Saemaul Ungdong” được dịch là “làng mới” của Hàn Quốc của những năm 1970 nhờ vào việc thực hiện các chiến lược cơ bản về giảm nghèo thích ứng - thúc đẩy cơ hội và tạo điều kiện trao quyền cho người dân nông thôn và đề xuất áp dụng mô hình này ở các nước đang phát triển trong khu vực. Theo đó, “làng mới” là một phong trào đổi mới phát triển nông thôn chủ yếu dựa vào cộng đồng nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn.
Mô hình xây dựng NTM của Hàn Quốc được bắt đầu từ 16 dự án thiết yếu nhất như: đường giao thông nông thôn, công trình cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, sửa chữa nhà tạm, nhà sinh hoạt cộng đồng. Bài học quan trọng nhất rút ra từ Saemaul Undong là đã đề ra các chiến lược và biện pháp huy động nguồn lực phù hợp với bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội cụ thể. Khuyến nghị các nước đang phát triển nghiên cứu kỹ tình hình cụ thể và đưa ra các giải pháp khả thi thiết thực cho riêng mình. Luận án tiến sĩ quản lý hành chính (2012), “Modernization Campaigns and Peasant Polities in China, Taiwan and South Korea” (Phát triển nông thôn: Các chiến dịch hiện đại hóa và chính sách nông dân ở Trung Quốc, Đài Loan và Hàn TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 10 Quốc) của tác giả Looney, Kristen (Đại học Harvard, 2012), phân tích mô hình lý thuyết về phát triển nông thôn ở Đông Á thông qua việc nghiên cứu sự phát triển nông thôn của Đài Loan, Hàn Quốc và phong trào xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc.
Xây dựng NTM được mô tả như một chính sách xóa bỏ mô hình lạc hậu ở nông thôn trước đây để xây dựng mô hình NTM với kinh tế - xã hội phát triển, thu nhập người dân ngày càng tăng. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự thành công và thất bại của các chính sách phát triển nông thôn các nước Đông Á. Nhờ các chính sách đúng đắn cho phát triển cho khu vực nông thôn ở Đài Loan và Hàn Quốc trong những thập niên 60-80, nông thôn đã trở nên mạnh mẽ, năng động, linh hoạt, có sức sản xuất cao, có tính cạnh tranh mạnh mẽ, sản xuất hàng hóa phát triển mang lại giá trị kinh tế. Nghiên cứu cho rằng sự trị trệ trong chính sách cải cách đất đai cũng là những hạn chế trong phát triển nông thôn.
Khẳng định cải cách về đất đai là cần thiết, xác định vai trò của Chính phủ và huy động sự tham gia của tổ chức nông dân là rất quan trọng để phát triển nông thôn các nước 4. Theo quan điểm của tác giả, xây dựng NTM được thực hiện ở các thôn làng, với tư cách là một khu tự trị, tự quản và cải cách chính sách phát triển khu vực nông thôn là rất cần thiết để thực hiện mô hình NTM. Nhìn chung các chính sách chuyển đổi và phát triển nông thôn các nước cũng hết sức đa dạng, và tạo ra sự khác biệt lớn về nông thôn và nông nghiệp ở các quốc gia này. Luận án tiến sĩ triết học “Saemaul undong (new village movement) in Korea a strategy for citizen participation in rural community development” (Phong trào làng mới ở Hàn Quốc chiến lược tham gia của người dân trong phát triển cộng đồng nông thôn) của tác giả Sang Yoon Rhee (Đại học Nam California, 1985), nghiên cứu về phong trào “làng mới” củả Hàn Quốc với chiến lược tham gia của người dân vì sự phát triển của cộng đồng.
Luận án đưa ra những đánh giá về sự đóng góp của phong trào làng mới cho sự phát triển của một nền dân chủ với sự tham gia của cộng đồng dân cư nông thôn. Theo tác giả, “làng mới” với ý nghĩa là dự án phát triển nông 4 Looney, Kristen (2012), Modernization Campaigns and Peasant Polities in China, Taiwan and South Korea, Doctoral dissertation, Harverd University, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 11 thôn được thiết kế cơ bản để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, cải thiện điều kiện sống của người dân và thay đổi hành vi thông qua tự lực và hợp tác. Nghiên cứu “Modularization of Korea’s Development Experience: New Research on Saemaul Undong: Lessons and Insights from Korea’s Development Experience” (Hiện đại hóa kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc: nghiên cứu phong trào làng mới: bài học và hiểu biết sâu sắc từ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc) của Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc, 2013, tập hợp các bài viết của các tác giả về bài học kinh nghiệm sâu sắc từ phát triển nông thôn của Hàn Quốc.
Các nhà nghiên cứu xây dựng quan điểm “làng mới” là phong trào phát triển nông thôn được thực hiện trên một nền dân chủ có sự tham gia tích cực của người dân. Người dân được trao quyền tự chủ thể hiện sáng kiến, tự mình quyết định và quản lý các dự án phát triển cộng đồng của chính phủ tại các thôn làng, tạo ra một cộng đồng tự lực, được trao cơ hội bình đẳng thông qua giáo dục. Theo phong trào, dân làng được yêu cầu làm việc tập thể, hợp tác trong việc đưa ra quyết định và giải quyết xung đột, hình thành cơ sở thể chế để quản lý lãnh đạo của làng xã, cơ cấu hiệp hội, HTX nông nghiệp. Điều này đã tạo ra ý thức về quyền sở hữu của người dân trong sự phát triển của cộng đồng và đóng góp vào nguồn lực cộng đồng từ đó thúc đẩy khả năng huy động hiệu quả sự tham gia tích cực của người dân.
Chính phủ đã nỗ lực trong việc thực hiện chính sách cải cách quản lý thuế đồng thời với các chính sách phát triển nông thôn. Với chính sách cải cách thuế, thu nhập từ thuế tăng mạnh như một phần của GNP đảm bảo sự lành mạnh về tài chính, ổn định vĩ mô để Chính phủ theo đuổi chính sách phát triển công nghiệp và nông thôn, đầu tư cho giáo dục và cơ sở hạ tầng5. Mô hình NTM được xây dựng ở Trung Quốc với tên gọi đầy đủ là “Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa”. Khái niệm “nông thôn mới” đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau ở Trung Quốc từ thập niên 50 của thế kỷ XX đến nay.
Công trình “Lý luận, thực tiễn và các chính sách xây dựng nông thôn mới Trung Quốc” do dịch giả Cù Ngọc Hưởng biên dịch (Trung tâm phát triển nông 5 Joon -Kyung Kim and KS.Kim (2013, Modularization of Korea's Development Experience: Why the Saemaul Undong is So Important to Understanding Korea’s Social and Economic, Ministry of Strategy and Finance (MOSF), Korea Saemaul Undong Center, KDI School, tr 29. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 12 thôn- Dự án MISPA, 2006) đã xây dựng khái niệm NTM, phân tích chức năng động lực về xây dựng NTM. Theo đó, “NTM trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ”. Từ “mới ” trong cụm từ “xây dựng nông thôn mới” được chỉ rõ, đó là: xây dựng kế hoạch mới, kiến thiết làng xã mới, phát triển ngành nghề mới, đào tạo tầng lớp nông dân mới, tạo nên diện mạo mới, hình thành sức mạnh tổng hợp mới và áp dụng cách làm mới6.
Mục tiêu của xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa Trung Quốc là “sản xuất phát triển, đời sống ấm no, làng xã văn minh, diện mạo sạch đẹp, quản lý dân chủ”. Nghiên cứu đã tập hợp và phân tích chính sách, kiến nghị tăng cường đầu tư của chính phủ vào các dịch vụ công nông thôn, tăng cường lợi ích của doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng NTM, chỉ ra hạn chế, tồn tại của cơ chế chính sách và sự cần thiết phải pháp chế hóa các biện pháp hỗ trợ xây dựng NTM ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, thuật ngữ “nông thôn mới” được nêu ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960). Tuy nhiên, chỉ sau khi Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008, xây dựng NTM mới thực sự bắt đầu và chính thức trở thành một Chương trình MTQG triển khai trong phạm vi toàn quốc.
Chương trình MTQG xây dựng NTM được coi là mô hình xây dựng NTM của Việt Nam đến thời điểm hiện nay. Cũng từ đây, các nghiên cứu lý luận, thực tiễn xây dựng NTM được thúc đẩy. Dưới đây là một số công trình điển hình cần kể: 1. Nghiên cứu về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới.
Bài “Huy động nguồn lực xã hội và phát huy vai trò của người dân trong tạo lập và duy trì các kết quả xây dựng nông thôn mới” của tác giả Bùi Thị Kim nêu quan điểm về NTM là quá trình phát triển liên tục không ngừng nghỉ. Sau khi thực hiện xong Bước 4, người dân lại tiếp tục bắt đầu lại Bước 1 với một hoàn cảnh mới. Mỗi giai đoạn xây dựng NTM có thể được đặt cho một cái tên khác nhau, nhưng cần đảm bảo giai đoạn sau sẽ phát triển và tiến bộ hơn giai đoạn trước. Về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM, tác giả cho rằng: xây dựng NTM không chỉ bao gồm việc huy động các nguồn lực xã hội để tạo ra các kết quả theo các tiêu chí của 6 Cù Ngọc Hưởng (2006), “Lý luận, thực tiễn và các chính sách xây dựng nông thôn mới Trung Quốc” , Trung tâm phát triển nông thôn – Dự án MISPA, tr 9.