CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm nông thôn Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông thôn là vùng lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã”. Theo Thông tư này, khái niệm nông thôn cũng được đưa ra dựa trên khái niệm thành thị.
Tuy nhiên trong khái niệm này thì yếu tố dân cư lại không được đưa ra. Nhu vạy, nông thôn theo quan niẹm này đuợc hiểu là noi sinh sống của nguời nông dân với các hoạt đọng kinh tế, van hóa, xã họi đạc thù và không phải là đô thị. Về NTM, các nhà nghiên cứu có nhiều tiếp cạn khác nhau: tác giả Vũ Trọng Khải (2015) trong cuốn sách "Phát triển nông thôn Viẹt Nam: Từ làng xã truyền thống đến van minh thời đại" cho rằng, NTM là nông thôn van minh hiẹn đại nhung vẫn giữ đuợc nét đẹp của truyền thống Viẹt Nam. Tô Van Truờng cho rằng, NTM cũng phải giữ đuợc tính truyền thống, những nét đạc trung nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tọc và nâng cao giá trị đoàn kết của cọng đồng, mức sống của nguời dân.
Mô hình nông thôn tiên tiến phải đuợc dựa trên nền tảng co bản là nông dân có tri thức. Họ phải có trình đọ khoa học về thổ nhu ng, giống cây trồng, hóa học phân bón và thuốc trừ sâu, quản lý dịch bẹnh, bảo quản sau thu hoạch, kinh tế nông nghiẹp. Có tác giả lại khẳng định, NTM phải tạp trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng làm đòn bẩy phát triển các ngành nghề khác; NTM đạt đuợc bọ tiêu chí do 11 Chính phủ ban hành (19 tiêu chí); NTM phải cải tạo đuợc cảnh quan, bảo vẹ môi truờng, phục vụ CNH, HĐH đất nuớc; NTM phải áp dụng khoa học k thuạt mới, nâng cao thu nhạp cho nguời dân. Nghị quyết 26-NQ/TU xác định: NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng KT - XH từng buớc hiẹn đại; co cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiẹp với phát triển nhanh công nghiẹp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã họi nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc van hóa dân tọc; môi truờng sinh thái đuợc bảo vẹ; an ninh trạt tự đuợc giữ vững; đời sống vạt chất và tinh thần của nguời dân ngày càng đuợc nâng cao; theo định huớng XHCN [1].
Mọt số quan niẹm khác cho rằng, NTM là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vạt chất tinh thần của nhân dân đuợc nâng cao, có quy hoạch, kết cấu hạ tầng hiẹn đại, môi truờng sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn đu ợc bản sắc van hóa dân tọc, an ninh chính trị đuợc giữ vững. Nhu vạy, công thức NTM là: Nông thôn mới Nông dân mới Nền nông nghiẹp mới. Qua đó cho thấy, nhìn chung các học giả khá thống nhất khi khẳng định quan điểm về NTM đó là, nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vạt chất và tinh thần của nhân dân đuợc nâng cao, dân trí cao, bản sắc van hóa dân tọc đuợc gìn giữ và tái tạo. Có thể nói, xây dựng nông thôn đã có từ lâu tại Việt Nam.
Có thời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng ta xây dựng cấp xã. Nhưng nông thôn chúng ta đang xây dựng theo mô hình NTM có một số điểm khác biệt so với nông thôn truyền thống. Đó là: Khác biệt thứ nhất, là xây dựng theo tiêu chí chung cả nước được định trước. Khác biệt thứ hai, là xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không thí điểm, nơi làm nơi không.
Khác biệt thứ ba, là cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nôngthôn mới, không phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng. Khác biệt thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chươngtrình mục 12 tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn. Hiểu một cách chung nhất của mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới là hướng đến một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị. Vì vậy có thể quan niệm: “Xây dựng nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng mới so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt” 1.
Khái niệm cộng đồng Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cộng đồng. Theo Redo - Trường Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng Philippins định nghĩa: “Cộng đồng là một đơn vị hành chính, lãnh thổ trong đó mọi người có sự liên kết chặt chẽ với nhau, chia sẻ các nền tảng chung như văn hóa, tôn giáo, chủng tộc… Họ chia sẻ mối quan tâm chung về những vấn đề cụ thể về những vấn đề cụ thể như nghèo đói, tệ nạn xã hội, trẻ em lao động sớm, tai nạn thương tích trẻ em, thất học, bệnh tật, họ có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”. Theo tác giả Trịnh Văn Tùng thì “Cộng đồng là một nhóm người có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, có nhiều thuộc tính giống nhau tạo thành bản sắc. Cộng đồng ấy không nhất thiết cùng sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ.
Họ cùng nhau chia sẻ những mối quan tâm về những vấn đề cụ thể (thiếu hụt chức năng xã hội, bị kì thị, bị loại trừ xã hội, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực đồng thời có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”. Như vậy, loại định nghĩa thứ nhất thể hiện rõ tính địa vực, trong khi loại định nghĩa thứ hai không thể hiện tính địa vực. Cả hai loại định nghĩa này đều thể hiện rằng, trong một cộng đồng thì có cộng đồng thể và cộng đồng tính. Cộng đồng thể tức là quy mô, cơ cấu hay hình hài vật lý của cộng đồng đó trong khi cộng đồng tính nhấn mạnh tính cố kết của cộng đồng theo hướng nào đó.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng loại định nghĩa thứ nhất bởi lẽ nó phù hợp với địa bàn nghiên cứu, cụ thể như sau: Theo định nghĩa thông dụng nhất thì “Cộng đồng là tập hợp những người sống chung với nhau có chung những ràng buộc về kinh tế, xã hội, phong tục tập quán”. 13 Từ thực tiễn xã Hồng Việt, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình là một đơn vị hành chính lãnh thổ, tức nó là một đơn vị hành chính cơ sở thấp nhất. Những người dân nơi đây có sự liên kết chặt chẽ với nhau vì đều chia sẻ những nét văn hóa tương đồng, bị ảnh hưởng phong tục, tập quán mà được truyền từ đời này sang đời khác. Tại đây, họ chia sẻ nhiều mối quan tâm chung trong đó nổi bật là nâng cao đời sống kinh tế - xã hội.
Vì vậy họ có nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc tìm kiếm các nguồn lực, làm thế nào để tạo ra cộng đồng người phát triển một cách toàn diện và bền vững. Khái niệm phát triển Phát triển là làm cho biến đồi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, hẹp đến rộng, đơn giản đến phức tạp (Tự điển tiếng Việt, 2011). Theo Liên Hiệp Quốc (1997): “Phát triển là tạo ra những cơ hội ngày càng nhiều cho tất cả mọi người để có đời sống tốt hơn, điều thiết yếu là tăng cường và cải thiện các điều kiện cho giáo dục, sực khỏe, dinh dư ng, nhà ở và an sinh xã hội cũng như bảo vệ môi trường”. Lý luận về phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới 1.
Khái niệm phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới Khái niệm PTCĐ được Chính phủ Anh sử dụng đầu tiên, 1940: “Phát triển cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những n lực của nhà nước để cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng khả năng tự lực của cộng đồng”. Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia (M ) thì “Phát triển cộng đồng” là một khái niệm rộng/áp dụng trong thực tiễn hoặc trong chương trình đào tạo những người lãnh đạo dân sự, những “tích cực viên” làm việc với người dân và các nhà chuyên môn để cải thiện các lĩnh vực cộng đồng địa phương. “Phát triển cộng đồng” là tiến trình tạo dựng/trao quyền (empower) cho cá nhân và nhóm người bằng cách cung cấp những kĩ năng cần thiết để họ có thể thay đổi cộng đồng của chính mình. Ross, 1955: “Phát triển cộng đồng là một diễn tiến qua đó CĐ nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của CĐ, biết sắp xếp các nhu cầu ưu tiên và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, biết tìm đến tài 14 nguyên bên trong và ngoài CĐ để đáp ứng chúng, thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và k năng hợp tác trong CĐ” Trong tài liệu của Liên Hợp Quốc, 1956, có viết như sau: “Thuật ngữ phát triển cộng đồng được sử dụng để chỉ một chương trình theo phương pháp tiếp cận và kĩ thuật dựa vào cộng đồng sở tại như một đơn vị hành động nhằm kết hợp sự trợ giúp từ bên ngoài với những n lực, quyền tự quyết/tự xác định được tổ chức lại và từ đó, khuấy động/khuyến khích sang kiến và sự lãnh đạo của địa phương, coi đó như công cụ tiên quyết để thay đổi… Với các nước kinh tế công nghiệp với các khu vực chậm phát triển thì trọng tâm chủ yếu đặt vào các hoạt động cải thiện điều kiện sống cơ bản của cộng đồng, bao gồm cả việc thỏa mãn một số nhu cầu phi vật chất của cộng đồng”.
Qua một số khái niệm được trích dẫn trên đây có thể cho thấy các khái niệm này có những ranh giới khác biệt, rộng hẹp khác nhau, tùy vào quan điểm tiếp cận, mục đích sử dụng của tác giả. Tuy có sự khác biệt đó, những khái niệm trên dường như cũng có những điểm gì đó rất chung.