Tổng quan nghiên cứu

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chủ trương mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước, đóng vai trò bản lề trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Tính đến hết năm 2018, trên phạm vi cả nước đã có 3.289 xã (đạt 36,8%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân đạt 14,25 tiêu chí/xã. Tại tỉnh Phú Thọ, huyện Đoan Hùng là địa bàn trung du miền núi đặc thù với tổng diện tích tự nhiên 30.285,22 ha, gồm 28 đơn vị hành chính cấp xã (27 xã và 01 thị trấn) cùng dân số 122.875 người phân bổ trong 31.330 hộ gia đình thuộc 14 dân tộc anh em.

Mặc dù kinh tế huyện duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân trên 10,9%/năm và thu nhập bình quân đầu người tăng từ 16,7 triệu đồng năm 2016 lên 23,2 triệu đồng năm 2018, quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn phức tạp. Tính đến cuối năm 2018, toàn huyện mới chỉ có 05 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí nông thôn mới, trong khi 23 xã vẫn dừng lại ở mức 10 đến 14 tiêu chí. Vấn đề quy hoạch sản xuất hàng hóa còn manh mún, hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ, tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt khoảng 41% và tư tưởng trông chờ vào ngân sách cấp trên còn tồn tại ở nhiều cơ sở.

Luận văn tập trung đánh giá toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng triển khai xây dựng nông thôn mới tại huyện Đoan Hùng trong giai đoạn 2016 - 2018. Trên cơ sở nhận diện các rào cản nội tại, nghiên cứu xác lập hệ thống giải pháp khả thi nhằm đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng thực hiện 19 tiêu chí quốc gia đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương tối ưu hóa nguồn lực đầu tư 415,57 tỷ đồng, đồng thời đóng vai trò mô hình tham chiếu điển hình cho các huyện trung du miền núi có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng trên cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển nông thôn bền vững và lý thuyết quản trị công hiện đại về huy động nguồn lực cộng đồng. Phát triển nông thôn bền vững đòi hỏi sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, mô hình phát triển do cộng đồng làm chủ nhấn mạnh nguyên tắc người dân vừa là chủ thể thực hiện vừa là đối tượng thụ hưởng trực tiếp, tránh khuynh hướng hành chính hóa trong đầu tư công.

Khung phân tích vận dụng hệ thống các khái niệm chuẩn mực:

  • Nông thôn mới: Kiểu tổ chức lãnh thổ nông thôn toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X và Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm 19 tiêu chí phân thành 5 nhóm cốt lõi: Quy hoạch, Hạ tầng kinh tế - xã hội, Kinh tế và tổ chức sản xuất, Văn hóa - Xã hội - Môi trường và Hệ thống chính trị.
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: Quá trình biến đổi tỷ trọng giữa các ngành nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại hóa.
  • Huy động nguồn lực xã hội hóa: Cơ chế phối hợp đa nguồn lực giữa ngân sách nhà nước và đóng góp tự nguyện bằng tiền mặt, ngày công, hiện vật và hiến đất của nhân dân.

Luận văn nghiên cứu có chọn lọc các bài học kinh nghiệm quốc tế như phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc giai đoạn 1971 - 1980 (với tỷ lệ đóng góp của người dân đạt 72,2% và ngân sách chính phủ giữ vai trò vốn mồi 27,8%), chương trình Mỗi làng một sản phẩm của Thái Lan với hơn 71.000 làng nghề tham gia, kết hợp các mô hình thực tiễn trong nước tại huyện Hoài Đức (Hà Nội), huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) và mô hình Khu dân cư kiểu mẫu, Vườn mẫu tại tỉnh Hà Tĩnh (với hơn 1.350 khu dân cư kiểu mẫu và 5.656 vườn hộ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khung thời gian từ năm 2016 đến hết năm 2018. Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Niên giám thống kê huyện Đoan Hùng, các báo cáo tổng kết của Ban chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng hệ thống văn bản pháp lý từ Trung ương đến địa phương như Nghị quyết số 18-NQ/HU của Huyện ủy Đoan Hùng.

Về phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng đại diện trên toàn bộ 28 đơn vị hành chính cấp xã của huyện. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm 100% các xã, thị trấn, trong đó tiến hành phân tích sâu 5 xã điểm đã đạt chuẩn 19 tiêu chí (Chí Đám, Minh Tiến, Tây Cốc, Sóc Đăng, Vân Đồn) và khảo sát thực địa đối chứng tại nhóm các xã có tiến độ trung bình từ 10 đến 14 tiêu chí.

Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh tỷ lệ phần trăm và hệ thống hóa dữ liệu. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này xuất phát từ tính chất định lượng của Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới. Việc phân tích chuỗi số liệu thời gian và cấu trúc tỷ trọng cho phép đo lường chính xác mức độ biến động của các chỉ số kinh tế, đánh giá hiệu quả giải ngân nguồn vốn 415,57 tỷ đồng, đồng thời chỉ ra sự phân hóa rõ nét về năng lực hoàn thành tiêu chí giữa các tiểu vùng sinh thái của huyện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực trạng triển khai xây dựng nông thôn mới tại huyện Đoan Hùng giai đoạn 2016 - 2018 đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mức độ hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới có sự chuyển biến tích cực nhưng phân hóa mạnh giữa các địa phương. Đến hết năm 2018, toàn huyện có 05 xã đạt chuẩn 19/19 tiêu chí (chiếm 17,86% tổng số xã), 02 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí (chiếm 7,14%) và 23 xã đạt từ 10 đến 14 tiêu chí (chiếm 82,14%), toàn huyện không còn xã dưới 9 tiêu chí. Riêng trong năm 2018, các xã đã hoàn thành thêm 17 tiêu chí, đạt 140% so với kế hoạch đề ra, trong đó 02 xã Chí Đám và Minh Tiến đã cán đích trước thời hạn quy định.

Thứ hai, tăng trưởng kinh tế và thu nhập của cư dân nông thôn có bước nhảy vọt đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người toàn huyện tăng trưởng 38,92% sau 3 năm, từ mức 16,7 triệu đồng/người/năm (2016) lên 19,6 triệu đồng (2017) và chạm mốc 23,2 triệu đồng (2018). Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch đúng hướng: tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp giảm dần từ 39,0% (2016) xuống 34,3% (2018); ngành thương mại - dịch vụ vươn lên giữ vai trò chủ đạo với 38,7% và công nghiệp - xây dựng chiếm 23,6%.

Thứ ba, cơ chế huy động vốn đầu tư phát triển ghi nhận tỷ lệ đóng góp ấn tượng từ cộng đồng xã hội. Tổng nguồn vốn đầu tư lũy kế đến hết năm 2018 đạt 415,57 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách huyện và xã đóng vai trò lớn nhất với 160,32 tỷ đồng (chiếm 38,58%); nhân dân đóng góp và các nguồn vốn xã hội hóa đạt 83,95 tỷ đồng (chiếm 20,20%); nguồn vốn ngân sách Trung ương và trái phiếu chính phủ là 73,89 tỷ đồng (chiếm 17,78%); vốn chương trình nông thôn mới đạt 45,68 tỷ đồng (chiếm 10,99%); vốn ngân sách tỉnh đạt 24,60 tỷ đồng (chiếm 5,92%) và vốn chương trình giảm nghèo đạt 27,53 tỷ đồng (chiếm 6,63%). Đặc biệt, trong năm 2018, phong trào hiến đất làm hạ tầng đã vận động được 151.740 m² đất từ các hộ dân.

Thứ tư, công tác đào tạo nghề và chất lượng nguồn nhân lực có bước đột phá về số lượng nhưng quy mô chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn. Tổng số lao động được đào tạo nghề tăng gấp 3,33 lần trong 3 năm, từ 330 người năm 2016 (210 nghề nông nghiệp, 120 nghề phi nông nghiệp) lên 787 người năm 2017 và đạt 1.099 người năm 2018 (810 nghề nông nghiệp, 289 nghề phi nông nghiệp). Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo trên toàn địa bàn mới chỉ đạt khoảng 41%, dẫn đến khó khăn trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật chuyên sâu vào nông nghiệp quy mô lớn.

Thảo luận kết quả

Kết quả đạt được tại 5 xã về đích khẳng định vai trò lãnh đạo tập trung của cấp ủy và Ban chỉ đạo các cấp theo định hướng Nghị quyết số 18-NQ/HU. Việc thực thi cơ chế phân cấp rõ ràng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền đã khơi dậy tinh thần tự giác của nhân dân, biến người dân từ tâm thế đứng ngoài thành lực lượng chủ động hiến đất, đóng góp ngày công và vốn đối ứng.

Tuy nhiên, khi đối chiếu với các mô hình thành công như bài học Saemaul Undong (Hàn Quốc) với mức đóng góp của cộng đồng đạt trên 72% hay bài học đầu tư tập trung không cào bằng tại huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) khi rót 32,5 tỷ đồng phát triển xã điểm Nga Lĩnh, huyện Đoan Hùng vẫn bộc lộ hạn chế lớn về tính bền vững. Tại các xã chưa đạt chuẩn, nguồn lực đầu tư còn dàn trải, nhiều nơi nặng về xây dựng hạ tầng cơ bản mà chưa chú trọng nâng cao năng lực tổ chức sản xuất. Việc liên kết chuỗi giá trị đối với các sản phẩm đặc hữu như bưởi Đoan Hùng chưa thực sự hoàn chỉnh khi so sánh với mô hình Vườn mẫu tại tỉnh Hà Tĩnh (nơi bình quân 1.000 m² vườn mẫu tạo ra doanh thu 50 triệu đồng và nhiều mô hình đạt trên 1,0 tỷ đồng/năm).

Để làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh, các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua:

  • Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn đầu tư: Mô tả trực quan tỷ trọng đóng góp của 6 nguồn vốn trong tổng số 415,57 tỷ đồng, làm nổi bật vai trò đòn bẩy của 83,95 tỷ đồng từ sức dân.
  • Đồ thị đường tăng trưởng thu nhập và chuyển dịch lao động: Biểu diễn xu hướng gia tăng thu nhập từ 16,7 triệu lên 23,2 triệu đồng/người song hành cùng đường gia tăng số lượng lao động qua đào tạo nghề từ 330 lên 1.099 người.
  • Bảng ma trận phân nhóm 19 tiêu chí: Phân loại 28 xã, thị trấn thành 3 nhóm rõ rệt, làm cơ sở phân bổ nguồn lực có trọng tâm trong giai đoạn tiếp theo.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển chuỗi giá trị hàng hóa đặc thù:

    • Hành động: Quy hoạch lại các vùng chuyên canh cây ăn quả có múi, trọng tâm là mở rộng diện tích bưởi đặc sản Đoan Hùng theo tiêu chuẩn VietGAP; củng cố và thành lập mới các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới.
    • Chỉ tiêu cụ thể: Nâng giá trị thu nhập bình quân trên 1,0 ha đất canh tác đạt trên 150 triệu đồng/năm, đưa tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo đạt trên 50% vào năm 2020.
    • Thời gian thực hiện: Quý I/2019 đến Quý IV/2020.
    • Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp cùng Hội Nông dân huyện và UBND 28 xã, thị trấn.
  2. Đổi mới cơ chế huy động và đa dạng hóa nguồn lực tài chính:

    • Hành động: Lồng ghép linh hoạt các nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, vốn vay tín dụng ưu đãi và ngân sách địa phương; áp dụng cơ chế thưởng công trình cho các xã có tiến độ vượt kế hoạch.
    • Chỉ tiêu cụ thể: Huy động tổng nguồn vốn bổ sung giai đoạn 2019 - 2020 đạt trên 250 tỷ đồng, trong đó tỷ trọng đóng góp tự nguyện từ nhân dân và doanh nghiệp duy trì ở mức tối thiểu 22% tổng vốn đầu tư.
    • Thời gian thực hiện: Hàng năm theo chu kỳ ngân sách 2019 - 2020.
    • Chủ thể thực hiện: Phòng Tài chính - Kế hoạch, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện và Ban Chỉ đạo nông thôn mới các xã.
  3. Hoàn thiện đồng bộ hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu:

    • Hành động: Tập trung kiên cố hóa hệ thống giao thông nông thôn liên thôn, liên xã và cứng hóa mạng lưới kênh mương nội đồng; nâng cấp trạm y tế và trường học đạt chuẩn quốc gia.
    • Chỉ tiêu cụ thể: Phấn đấu đến hết năm 2020 có 70% số xã đạt chuẩn tiêu chí giao thông (trục đường xã nhựa hóa hoặc bê tông hóa), 77% số xã đạt chuẩn thủy lợi và 75% số xã có cơ sở vật chất văn hóa - thể thao đạt chuẩn.
    • Thời gian thực hiện: Xuyên suốt giai đoạn 2019 - 2020.
    • Chủ thể thực hiện: Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp huyện và cộng đồng dân cư cấp thôn.
  4. Củng cố hệ thống chính trị cơ sở và nâng cao năng lực thực thi:

    • Hành động: Chuẩn hóa quy trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản lý và lập kế hoạch cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã; đẩy mạnh kiểm tra, giám sát và thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
    • Chỉ tiêu cụ thể: 100% cán bộ phụ trách công tác nông thôn mới xã được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn; giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống dưới mức 2,5% vào cuối năm 2020.
    • Thời gian thực hiện: Định kỳ hàng quý từ năm 2019 đến năm 2020.
    • Chủ thể thực hiện: Ban Tổ chức Huyện ủy, Phòng Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Đoan Hùng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang tính tổng kết thực tiễn và định hướng chính sách sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp: Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về mô hình phân bổ 415,57 tỷ đồng vốn đầu tư, phương thức huy động 151.740 m² đất hiến và kinh nghiệm điều hành tại 5 xã điểm, hỗ trợ trực tiếp cho lãnh đạo UBND cấp huyện, xã xây dựng kịch bản chỉ đạo phù hợp.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế nông nghiệp: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh trong việc kết hợp dữ liệu thống kê mô tả, chọn mẫu phân tầng và ứng dụng bài học quốc tế vào việc giải quyết bài toán phát triển tam nông cấp huyện.
  • Lãnh đạo các Hợp tác xã và Doanh nghiệp nông nghiệp: Giúp định hình cơ hội đầu tư trong lĩnh vực chế biến nông sản, tận dụng các chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu bưởi tập trung và mô hình kinh tế trang trại đồi rừng.
  • Các tổ chức phát triển cộng đồng và chuyên gia tư vấn chính sách: Cung cấp dữ liệu tham chiếu điển hình về cơ chế phát huy nội lực cư dân miền núi, bài học kinh nghiệm trong đào tạo nghề cho 1.099 lao động và giải pháp nâng cao tính bền vững cho các tiêu chí môi trường, văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

Những xã nào tại huyện Đoan Hùng đã hoàn thành 19/19 tiêu chí nông thôn mới tính đến hết năm 2018? Tính đến hết năm 2018, huyện Đoan Hùng có 05 xã được công nhận đạt chuẩn 19 tiêu chí gồm: Chí Đám, Minh Tiến, Tây Cốc, Sóc Đăng và Vân Đồn. Đáng chú ý, xã Chí Đám và xã Minh Tiến đã nỗ lực hoàn thành toàn diện các tiêu chí và cán đích thành công trước kế hoạch đề ra.

Cơ cấu nguồn vốn 415,57 tỷ đồng đầu tư xây dựng nông thôn mới huyện Đoan Hùng gồm những thành phần nào? Tổng vốn 415,57 tỷ đồng gồm: ngân sách huyện và xã đóng góp 160,32 tỷ đồng; nhân dân đóng góp và nguồn xã hội hóa 83,95 tỷ đồng; ngân sách Trung ương và trái phiếu chính phủ 73,89 tỷ đồng; vốn chương trình nông thôn mới 45,68 tỷ đồng; vốn chương trình giảm nghèo 27,53 tỷ đồng và ngân sách tỉnh 24,60 tỷ đồng.

Tình hình thu nhập bình quân đầu người của huyện Đoan Hùng đã cải thiện như thế nào trong giai đoạn 2016 - 2018? Thu nhập bình quân đầu người tại Đoan Hùng tăng trưởng liên tục qua các năm: đạt 16,7 triệu đồng/người/năm vào năm 2016, tăng lên 19,6 triệu đồng vào năm 2017 và đạt 23,2 triệu đồng vào năm 2018, tương ứng mức tăng trưởng 38,92% sau 3 năm triển khai quyết liệt.

Luận văn đã rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế nào để thúc đẩy phát huy nội lực từ người dân? Nghiên cứu đúc kết từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc nguyên tắc đầu tư có chọn lọc "làng nào làm tốt hỗ trợ trước", trong đó người dân đóng góp tới 72,2% tổng kinh phí. Cách làm này giúp Đoan Hùng xóa bỏ tư tưởng cào bằng, kích thích tinh thần tự lực của cộng đồng nông thôn.

Mục tiêu trọng tâm của chương trình xây dựng nông thôn mới tại Đoan Hùng hướng đến năm 2020 là gì? Đến năm 2020, huyện hướng tới mục tiêu có trên 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng thu nhập bình quân khu vực nông thôn lên trên 36 triệu đồng/người/năm, kiên cố hóa 70% trục đường giao thông xã và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 50%.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quốc tế, trong nước về quản lý và tổ chức thực hiện 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại địa bàn trung du miền núi.
  • Phân tích thực chứng toàn diện kết quả đạt được tại huyện Đoan Hùng giai đoạn 2016 - 2018 với 05 xã đạt chuẩn, thu nhập bình quân tăng lên 23,2 triệu đồng/người và huy động thành công 415,57 tỷ đồng nguồn vốn.
  • Chỉ rõ 4 nhóm nút thắt nội tại về chất lượng nguồn nhân lực (tỷ lệ qua đào tạo mới đạt 41%), liên kết sản xuất hàng hóa quy mô lớn và tư tưởng ỷ lại vào ngân sách nhà nước tại 23 xã chưa đạt chuẩn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ, lượng hóa rõ chỉ tiêu, chủ thể thực thi và lộ trình triển khai chi tiết cho giai đoạn 2019 - 2020.
  • Khẳng định vai trò quyết định của nhân dân với tư cách là chủ thể trung tâm thông qua bài học huy động 83,95 tỷ đồng tiền của và 151.740 m² đất hiến phục vụ công trình công cộng.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương khẩn trương thể chế hóa các giải pháp vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2019 - 2020, ưu tiên nguồn lực cho 02 xã tiệm cận chuẩn (đạt 15 - 18 tiêu chí) và đẩy mạnh đề án OCOP cho bưởi đặc sản. Toàn văn luận văn là tài liệu khoa học giá trị, cung cấp phương pháp luận thực chứng cho các nhà quản lý, nghiên cứu sinh và độc giả quan tâm đến chiến lược chuyển đổi nông thôn bền vững.