Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước trong quản lý thị trường hàng hóa; Chương 2: Phương pháp nghiên cứu về quản lý thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên gắn với vai trò của Nhà nước; Chương 3: Thực trạng vai trò của Nhà nước trong quản lý thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Chương 4: Một số giải pháp phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lý thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG QUẢN LÝ THỊ TRƢỜNG HÀNG HÓA 1. Những lý luận cơ bản về thị trƣờng hàng hóa 1. Những khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm thị trường hàng hóa - Sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường. Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội. Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời, khi có đủ hai điều kiện. Theo giáo trình Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ (tr 187): Thứ nhất, phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội một cách tự phát thành các ngành, nghề khác nhau.
Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, do đó dẫn đến chuyên môn hóa sản xuất. Do sự phân công này, mỗi người chỉ sản xuất ra một loại sản phẩm nhất định. Mỗi người hoặc mỗi nhóm người đều thừa sản phẩm do mình sản xuất ra, nhưng lại thiếu các loại sản phẩm khác. Do đó, việc trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất với nhau.Mác chỉ rõ: “ Sự phân công lao động xã hội này là điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hóa, mặc dầu ngược lại sản xuất hàng hóa không phải là điều kiện tồn tại của sự phân công lao động xã hội” C.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t23, tr. Thứ hai, có sự biệt lập tương đối của các chủ thể kinh tế: Trong lịch sử, khi xã hội xuất hiện hình thức tư hữu, những người sản xuất trở nên độc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 lập với nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi người toàn quyền chi phối sản phẩm do mình làm ra. Như vậy, những người sản xuất trong các ngành khác nhau muốn sử dụng sản phẩm của nhau phải tiến hành trao đổi hàng hóa dựa trên nguyên tắc ngang giá. Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa.
Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa. Khái niệm hàng hóa: Trong phạm vi của đề tài chỉ đề cập hàng hóa mang tính vật chất mà không đề cập đến hàng hóa sức lao động. Hàng hóa: là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, được sản xuất ra để trao đổi, mua bán trên thị trường. Không phải bất kỳ vật phẩm nào cũng là hàng hóa.
Những vật phẩm đi vào tiêu dùng không thông qua trao đổi hoặc mua bán thì không phải là hàng hóa Đặc trưng cơ bản của sản xuất hàng hóa: Có thể tổng quát về sản xuất hàng hóa đã trải qua các giai đoạn sau đây: Sản xuất hàng hóa giản đơn. Đặc trưng của sản xuất hàng hóa giản đơn là dựa trên chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động cá nhân của người sản xuất. Người sản xuất vừa là người lao động, vừa là người tư hữu. Sản xuất hàng hóa giản đơn có quy mô nhỏ, công cụ kỹ thuật sản xuất thủ công và năng suất lao động thấp.
Sản xuất hàng hóa giản đơn là khởi điểm của sản xuất hàng hóa và là cơ sở cho sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển. Với mục đích của sản xuất hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất mà để thỏa mãn nhu cầu của người khác, của thị trường, sự gia tăng không hạn chế về nhu cầu của thị trường là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải năng động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 sản phẩm nhằm tiêu thụ được hàng hóa và thu lợi nhuận ngày càng nhiều hơn. Sự phát triển của sản xuất xã hội luôn mang tính chất “mở”, các quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế văn hóa giữa các vùng, miền, các quốc gia ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, sản xuất hàng hóa có những mặt trái như: phân hóa giàu nghèo, tiềm ẩn khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá hoại môi trường sinh thái… Sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa: là kiểu sản xuất của các nhà tư bản với mục đích làm giàu trên cơ sở bóc lột lao động của người thuê. Đặc trưng của nó là sản xuất đại công nghiệp cơ khí, quy mô lớn, năng suất lao đọng cao. Người lao động bị tách khỏi quyền sở hữu tư liệu sản xuất phải đi làm thuê; giai cấp tư sản nắm chủ yếu tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê của giai cấp công nhân. Đến chủ nghĩa xã hội, sản xuất hàng hóa vẫn tồn tại và phát triển.
Đặc trưng của sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa là sản xuất hàng hóa với trình độ dựa trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nhằm thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần cho mọi thành viên trong toàn xã hội. - Thị trƣờng: Khái niệm thị trường: Theo nghĩa hẹp, thị trường là nơi diễn ra các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hóa. Theo nghĩa rộng, thị trường là lĩnh vực trao đổi, mua bán hàng hóa, phản ánh sự phát triển của phân công lao động xã hội. Sự hình thành và phát triển của thị trường gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hóa.
Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có thị trường. Các chức năng cơ bản của thị trường: Sản xuất hàng hóa luôn gắn liền với thị trường. Thị trường là nơi diễn ra trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả và số lượng của hàng hóa hay dịch vụ. Nói đến thị trường là nói đến địa điểm và rộng hơn nữa là không Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 gian mua bán, trao đổi, là nói đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế và trao đổi mua bán.
Thị trường có những chức năng sau: Thừa nhận công dụng của hàng hóa (giá trị sử dụng xã hội) và chi phí lao động để sản xuất ra nó (giá trị của hàng hóa). Sản xuất hàng hóa là việc riêng của từng người nhưng hàng hóa của họ có đáp tứng nhu cầu, thị hiếu của xã hội về chất lượng, quy cách và chi phí hay không thì phải thông qua thị trường. Khi sản phẩm bán được với một giá cả nhất định nghĩa là giá trị sử dụng của nó được xã hội công nhận và giá trị của hàng hóa được thực hiện. Ngược lại, nếu hàng hóa không bán được, công dụng hàng hóa không được thừa nhận và giá trị hàng hóa không được thực hiện.
Cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng. Thị trường luôn có những thay đổi nhu cầu và các loại hàng hóa, dịch vụ (số lượng, chất lượng, giá cả). Những thay đổi này thể hiện qua sự lên xuống của giá cả hàng hóa. Đó là những thông tin cực kỳ quan trọng đối với người sản xuất hàng hóa, giúp họ điều chỉnh sản xuất cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu; đồng thời giúp cho người tiêu dùng điều chỉnh sức mua của mình.
Điều tiết sản xuất, lưu thông và phân bố tài nguyên. Khi giá cả hàng hóa tăng lên, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất mặt hàng ấy và sẽ thu hút tài nguyên lưu chuyển vào ngành đó, nhưng lại làm cho người tiêu dùng giảm nhu cầu về loại hàng hóa đó - cầu giảm. Cầu giảm thì giá cả giảm và người sản xuất giảm sản xuất mặt hàng đó. Như vậy, thị trường thông qua giá cả, điều tiết sản xuất và lưu thông, phân bố tài nguyên.
Phân loại thị trường, có nhiều cách phân loại thị trường: Xét theo đối tượng mua bán: thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ, thị trường yếu tố sản sản xuất. Xét theo không gian: thị trường trong nước, thị trường thế giới; thị trường cả nước, thị trường địa phương. Xét theo thời gian: thị trường ngắn hạn, thị trường dài hạn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 Xét theo tính chất: thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo.
- Cơ chế thị trƣờng và các nhân tố của cơ thế thị trƣờng Cơ chế thị trường: là phương thức vận hành của nền kinh tế thị trường theo những nguyên tắc và quy luật thị trường thông qua khả năng tự điều tiết của nó. Thông qua các yếu tố thị trường như cung cầu, giá cả hàng hóa, dưới tác động của các quy luật kinh tế, cơ chế thị trường điều chỉnh các quan hệ kinh tế trên cơ sở bảo đảm phân bổ lợi ích kinh tế giữa chủ thể kinh tế. Cơ chế thị trường thông qua các nhân tố sau đây tác động vào sản xuất: Giá cả thị trường: là giá cả hình thành trên thị trường, xoay quanh giá trị thị trường, và chịu sự chi phối của quan hệ cung - cầu hàng hóa trong môi trường cạnh tranh. Sự lên xuống của giá cả thị trường một hàng hóa nào đó có vai trò mở rộng hay thu hẹp việc sản xuất, kinh doanh mặt hàng đó.
Cầu hàng hóa: là nhu cầu có khả năng thanh toán; là số lượng hàng hóa mà người mua muốn mua và có khả năng mua theo hình thức giá trị. Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu: Thu nhập của dân cư; Giá cả hàng hóa; Hiệu quả và tác dụng của hàng hóa đối với người tiêu dung.