phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung chính của Luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cấp cơ sở 1. Hệ thống chính trị Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính của quyền lực.
Chính vì vậy, HTCT ở nước ta là cơ chế, là công cụ để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện nay, HTCT của nước ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước CHXHCN Việt Nam, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giai cấp công - nông - trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của người dân. Xét về cơ cấu tổ chức, HTCT ở nước ta bao gồm ba bộ phận: Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân và là lực lượng lãnh đạo HTCT XHCN và toàn thể xã hội; Nhà nước CHXHCN Việt Nam là trụ cột, là trung tâm của HTCT; MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội là cơ sở chính trị của nhà nước và xã hội. HTCT XHCN của Việt Nam có những đặc điểm như sau: Một là, HTCT ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân, tức là các tổ chức trong cả HTCT đều bền vững trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân.
Từ đó, chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ HTCT đều hướng tới đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hai là, HTCT nước ta mang bản chất dân chủ. Biểu hiện của nó là quyền lực thuộc về nhân dân, đây là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột. Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của HTCT ở nước ta.
Bản chất 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Đây cũng chính là điểm khác biệt căn bản của HTCT ở nước ta với HTCT của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất giữa lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như của cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ở nước ta, quyền lực chính trị là sức mạnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp. Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Việt Nam Theo điều 118 trong Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam khẳng định HTCT của nước ta hiện nay gồm bốn cấp: Cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; cấp xã, phường, thị trấn; trong đó, cấp cơ sở là cấp xã, phường, thị trấn - cấp cuối cùng, gần gũi với dân nhất nên được gọi là cấp cơ sở.
Trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa IX có xác định: “Các cấp cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống. HTCT CCS có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư” [6; tr. Ở nước ta, HTCT CCS là một thể thống nhất bao gồm ba tổ chức: Tổ chức Đảng cơ sở (các Đảng bộ, chi bộ cơ sở), Chính quyền địa phương (HĐND, UBND), MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội (hay gọi cách khác là các đoàn thể nhân dân bao gồm: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam…). Mỗi tổ chức lại có vai trò và chức năng riêng nhưng không tách rời mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau, cùng tồn tại trên một đơn vị lãnh thổ - dân cư nhất định, đó là đơn vị hành chính cơ sở.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiến pháp năm khẳng định: Địa vị pháp lý của chính quyền địa phương là thiết chế không thể thiếu trong tổ chức bộ máy của Nhà nước, là nơi có tính chất quyết định đối với việc đưa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống. Đây là thiết chế quan trọng, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân đồng thời khẳng định nguyên tắc một cấp chính quyền gồm HĐND và UBND: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước CHXHCN Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt do luật định” [12; tr. Hội đồng nhân dân Điều 113 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân” [12; tr. Điều 115 Hiến pháp năm 2013 khẳng định vinh dự, trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND trước nhân dân và cử tri. Theo đó: “Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị ở địa phương. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu” [12; tr.
Ủy ban nhân dân: Điều 114 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 nước CHXHCN Việt Nam đã khẳng định: “Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao. UBND và HĐND xã có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức triển khai và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về Chương trình MTQG về NTM; đồng thời, phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình thực hiện các tiêu chí đã được ban hành trước đó. Kết quả của quá trình xây dựng NTM tại địa phương có tốt hay không phụ thuộc không nhỏ vào sự lãnh đạo của UBND và HĐND xã.
MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội khác có vai trò hết sức quan trọng trong việc gắn kết người dân, chăm lo lợi ích của các thành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền, nghĩa vụ công dân, giữ mối liên hệ giữa Đảng và Nhà nước ta với nhân dân. Thêm vào đó, đây cũng là lực lượng đi đầu trong các hoạt động tuyên truyền các đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Có thể nói rằng, vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị khác như một cánh tay đắc lực thực hiện việc đi sâu vào từng ngõ ngách, khía cạnh trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa tinh thần của người dân; như một trung tâm điều hòa các mâu thuẫn xã hội nảy sinh, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân và đóng vai trò thực thi qui chế dân chủ tại địa phương, lựa chọn các đại biểu của nhân dân ở cơ sở. Đây 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng là lực lượng nòng cốt đi đầu trong các phong trào vận động quần chúng tham gia bảo vệ trật tự, an ninh, xây dựng nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương.
Từ những nghiên cứu về HTCT CCS, Viện khoa học tổ chức Nhà nước của Bộ Nội vụ đưa ra định nghĩa khái quát, trong đó HTCT CCS được hiểu là toàn bộ thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở. HTCT CCS tại địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng trong bộ máy công quyền xuyên suốt từ Trung ương tới địa phương.