Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm dân vận và công tác dân vận 1. Khái niệm “dân vận” Trong bài báo “Dân vận” đăng trên Báo Sự Thật, số 120, ngày 15/10/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nêu: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”.
"Dân vận" được hiểu theo cả chiều rộng và chiều sâu. Theo chiều rộng, "Dân vận" là vận động tất cả mọi người dân, không để sót một người nào, nhằm tập hợp, đoàn kết lực lượng toàn dân, thực hiện những công việc chung, những công việc nên làm. Hiểu theo chiều sâu, "Dân vận" là phải hiểu rõ năng lực, tâm tư, nguyện vọng hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng để có hình thức vận động cho phù hợp. Đây là yêu cầu cao của công tác dân vận, có như vậy mới góp thành lực lượng toàn dân.
Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng huấn thị: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.
Trên tinh thần ấy, có thể cho rằng “Dân vận” là khái niệm chỉ công tác vận động nhân dân tham gia làm cách mạng, hay còn gọi là công tác vận động quần chúng. Dân vận không chỉ ở con người và tổ chức mà còn là một hoạt động, bao gồm cả tuyên truyền, giảng giải, thuyết phục, hướng dẫn, tổ chức nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật 10 của Nhà nước; vừa là phong trào xã hội, từ thi đua yêu nước, vận động đoàn kết, vừa là công tác thực tế hằng ngày. Dân vận là làm cho người dân trưởng thành cả ý thức dân chủ và năng lực làm chủ, người dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền nhà nước, xây dựng các tổ chức, đoàn thể của mình. Dân vận còn được hiểu là hoạt động của các cơ quan làm công tác dân vận của Đảng, chính quyền, đoàn thể trong hệ thống chính trị ở Việt Nam.
Dân vận cũng có nghĩa là cán bộ, đảng viên phải làm gương trước Nhân dân, lôi cuốn quần chúng hoạt động theo mình. Qua dân vận mà Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể các cấp ngày càng được xây dựng, củng cố, phát triển vững mạnh. Dân vận là thước đo của một xã hội phát triển, một nhà nước pháp quyền, một nền dân chủ và một hệ thống chính trị đổi mới. Dân vận góp phần quan trọng trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy dân chủ, là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với nhân dân; giữa Nhân dân với Đảng, chính quyền thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng của Đảng 1.
Khái niệm “công tác dân vận” a) Quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin Xuất phát từ quan điểm quần chúng Nhân dân là người làm nên lịch sử, cách mạng phải là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ khi xây dựng học thuyết cách mạng, đã đặt trọng tâm vào công tác nghiên cứu, xây dựng, phát triển lý luận về công tác vận động quần chúng. Những tư tưởng chung, phổ quát của C.Ăngghen (Friedrich Engels) về vai trò của quần chúng Nhân dân và về công tác vận động quần chúng, trong đó có những tư tưởng liên quan đến vấn đề chính quyền với công tác dân vận, vẫn là những tư tưởng rất khoa 11 học, phù hợp với lịch sử và ngày nay vẫn mang tính thời sự, vẫn là kim chỉ nam cho mọi việc nghiên cứu và thực hành công tác dân vận.Ăngghen đánh giá cao vai trò, lực lượng và khả năng của giai cấp bị áp bức trong xã hội có giai cấp đối kháng. Các ông đã khẳng định rằng: “Một giai cấp bị áp bức là điều kiện sống còn của một xã hội dựa trên sự đối kháng giai cấp” [1, tr. Giai cấp đó là lực lượng sản xuất lớn nhất trong tất cả các lực lượng sản xuất của xã hội.
Giai cấp đó có bản chất cách mạng là khối đông đảo quần chúng đang làm cách mạng.Ăngghen, quần chúng Nhân dân đóng vai trò đặc biệt quan trọng có thể chuyển hóa những tư tưởng, lý luận cách mạng thành hiện thực cách mạng và những cuộc cách mạng có vai trò cực kỳ to lớn, như Mác đã từng khẳng định cách mạng là những đầu tàu của lịch sử. Như vậy, theo C.Ăngghen thì quần chúng Nhân dân không những là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp sáng tạo ra mọi của cải vật chất của xã hội, mà còn là người quyết định vận mệnh của lịch sử, có sứ mệnh phá bỏ cái cũ, cái lạc hậu, khám phá và dựng lên cái mới, cái tiến bộ. Quần chúng Nhân dân là một khối đông đảo, tuy nhiên không thuần nhất gồm nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau, có đặc điểm và vị trí, vai trò khác nhau. Cho nên, muốn tập hợp được quần chúng Nhân dân trở thành một khối thống nhất và làm cách mạng triệt để thì cần phải được tuyên truyền, giáo dục để quần chúng Nhân dân hiểu rõ mục đích lý tưởng, trách nhiệm của mình.Ăngghen, Đảng và chính quyền của giai cấp vô sản rất cần thiết tiến hành công tác vận động quần chúng vì: Một là, quần chúng Nhân dân là chủ thể sáng tạo nên lịch sử Lịch sử cho thấy, quần chúng Nhân dân là chủ thể tạo ra mọi của cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Các nhà kinh điển của 12 chủ nghĩa Mác đã khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân, chính quần chúng là người làm nên lịch sử. Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843), C.Mác đã viết: “Chủ quyền của Nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của Nhân dân…” [2, tr. Trong tác phẩm Gia đình thần thánh (1844), C.Ăngghen nhận xét vai trò của quần chúng nhân dân đặc biệt thể hiện rõ trong thời kỳ cách mạng: “Hoạt động lịch sử càng lớn lao thì do đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo” [2, tr. Phát triển tư tưởng của C.Ăngghen trong điều kiện mới, V.Lênin, trong tác phẩm Chào mừng những người cộng sản Ý, Pháp và Đức (1919), đã khẳng định: “Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số Nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được…” [4, tr.
Hai là, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Là chủ thể của lịch sử, nhưng quần chúng Nhân dân chỉ có thể phát huy tối đa sức mạnh và vai trò sáng tạo một khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Ăngghen đã luận chứng một cách khoa học về vai trò của Đảng Cộng sản như một điều kiện chủ quan có ý nghĩa quyết định đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng XHCN. Để đảm bảo cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân (GCCN) và nhân dân lao động giành thắng lợi, GCCN phải tự tổ chức ra được chính đảng độc lập, các đảng đó phải biết thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng, huấn luyện quần chúng và đưa quần chúng ra đấu tranh; mặt khác bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào cuộc cách mạng ấy. Trong Lời nói đầu tác phẩm 13 Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ 1848 đến 1850, C.Mác viết: “Ở nơi nào mà vấn đề đặt ra là phải cải tạo hoàn toàn chế độ xã hội, thì bản thân quần chúng phải tự mình tham gia công cuộc cải tạo ấy, phải tự mình hiểu rõ vì sao phải tiến hành đấu tranh, vì sao mình phải đổ máu và hy sinh tính mạng” [3, tr.
Nhưng muốn cho quần chúng hiểu rõ phải làm gì và làm như thế nào một cách tự giác thì “cần phải tiến hành một công tác lâu dài và kiên nhẫn”, tức là phải tiến hành công tác vận động quần chúng.Lênin, trong tác phẩm Làm gì (1901) đã cho rằng “1) Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo; 2) Càng có đông đảo quần chúng được thu hút tự phát vào cuộc đấu tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, thì càng cấp thiết phải có một tổ chức như thế và tổ chức ấy lại càng phải vững chắc” [7, tr. Đảng Cộng sản ra đời chính là đáp ứng nhu cầu cấp thiết của sự nghiệp đấu tranh khách quan của GCCN, nhân tố quyết định thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN, bởi vậy, theo VI.Lênin, Đảng Cộng sản phải “Sống trong lòng quần chúng/Biết tâm trạng quần chúng/Biết tất cả/Hiểu quần chúng/Biết đến với quần chúng/Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng” [10, tr. Ba là, công tác vận động quần chúng phải xuất phát từ nhu cầu, lợi ích nhằm tạo sự thống nhất hành động của quần chúng Theo C.Mác, tất cả cái gì mà con người đấu tranh để giành lấy, đều dính liền với lợi ích của họ. Nghiên cứu nguyên nhân của sự phân chia chính trị của nước Đức thành hơn 30 quốc gia lớn nhỏ và sự hỗn tạp của các thành phần dân tộc, Ph.Ăngghen trong bài Cách mạng và phản cách mạng ở Đức đã chỉ rõ: “Ở đâu không có lợi ích chung thì ở đó không thể có sự thống nhất về mục đích và càng không thể có sự thống nhất về hành động được” [9, tr.
Công tác vận động quần chúng trong cách mạng vô sản là một nhiệm vụ có 14 tính chiến lược của cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài, khó khăn, gian khổ, cuộc đấu tranh ấy chưa kết thúc ngay cả khi giai cấp vô sản đã giành được chính quyền, mà còn phải tiếp tục trong quá trình xây dựng CNXH và chủ nghĩa cộng sản vì lợi ích thiết thân của tuyệt đại đa số Nhân dân và của toàn xã hội.