Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Giáo dục Chính trị của tác giả Hồ Thị Hương Giang (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, năm 2005, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Chương Nhiếp) tập trung nghiên cứu đề tài: "Hệ thống chính trị và vấn đề nâng cao vai trò của hệ thống chính trị đối với cơ sở hạ tầng ở Việt Nam hiện nay".
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đóng vai trò to lớn, lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, chiến thắng hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sau chiến tranh, hệ thống chính trị dần bộc lộ nhiều nhược điểm, khuyết điểm, trở thành một trong những nguyên nhân khiến đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 của thế kỷ XX.
Nhận thức được yêu cầu cấp bách đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện. Trải qua hơn 17 năm đổi mới (tính đến thời điểm hoàn thành khóa luận năm 2005), hệ thống chính trị đã có những bước chuyển biến quan trọng. Dẫu vậy, như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã nhận định: năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội vẫn chưa theo kịp đòi hỏi của tình hình; bộ máy còn cồng kềnh, quan liêu; quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi bị vi phạm nghiêm trọng; công tác cán bộ còn nhiều lúng túng. Trong mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, Đảng chủ trương tập trung đổi mới kinh tế đồng thời từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Do đó, việc nghiên cứu mối quan hệ tác động trở lại của hệ thống chính trị đối với cơ sở hạ tầng trở thành một đòi hỏi bức thiết về cả lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản xác định rõ mục đích tổng quát là làm rõ khái niệm, cấu trúc, vai trò của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng; phân tích thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của hệ thống chính trị đối với cơ sở hạ tầng ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 3 nội dung chính:
- Trình bày khái niệm hệ thống chính trị, cấu trúc, chức năng, vai trò của hệ thống chính trị và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Trình bày, phân tích thực trạng của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay (giai đoạn Đổi mới).
- Đề xuất những phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của hệ thống chính trị đối với cơ sở hạ tầng ở Việt Nam hiện nay và trong những năm tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bản chất, cấu trúc, chức năng của hệ thống chính trị và cơ chế tác động của hệ thống chính trị đối với sự phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Hệ thống chính trị Việt Nam ở tầm vĩ mô và mối liên hệ vận hành đến cấp cơ sở.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) qua hơn 17 năm thực hiện đường lối đổi mới đến năm 2005, với các mốc dữ liệu văn kiện đến Đại hội Đảng lần thứ IX.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và tài liệu kế thừa
Khóa luận được xây dựng dựa trên các nền tảng lý luận chính trị và pháp lý:
- Nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin: Quy luật biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; các quan niệm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin về nhà nước, chuyên chính vô sản và quyền lực chính trị.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh: Quan điểm về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân và phương thức vận động quần chúng.
- Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (thông qua tại Đại hội VII) cùng các Nghị quyết của Đại hội VI, VII, VIII, IX và các Hội nghị Trung ương (đặc biệt là Hội nghị Trung ương 6 khóa VI).
- Văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 1992; Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998; Luật Ngân sách nhà nước; Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng; các quy định về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Tổng quan công trình nghiên cứu trước đó: Đề tài cấp Nhà nước KX 05-04 ("Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội", do Nguyễn Ngọc Long chủ nhiệm); công trình Những yếu tố động lực trong hệ thống chính trị Việt Nam (Nguyễn Duy Gia chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, 1994); Xây dựng hệ thống chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh (Học viện Chính trị Quân sự, NXB Quân đội nhân dân, 2000); Hệ thống chính trị ở cơ sở - đặc điểm và giải pháp (TS. Vũ Hoàng Công, NXB Chính trị Quốc gia, 2002); Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay (GS.TS. Hoàng Chí Bảo, NXB Chính trị Quốc gia, 2004); các nghiên cứu chuyên sâu trên Tạp chí Cộng sản của tác giả Tạ Xuân Đại (2002), Phạm Hồng Chương (2004).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để làm rõ khái niệm, cấu trúc hệ thống chính trị.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch để đánh giá mối quan hệ qua lại giữa các thành tố trong hệ thống chính trị và cơ sở hạ tầng.
- Phương pháp kết hợp logic và lịch sử trong việc khảo cứu sự phát triển của hệ thống chính trị Việt Nam từ thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp sang thời kỳ đổi mới kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nguồn dữ liệu
Nguồn dữ liệu của đề tài là dữ liệu thứ cấp từ văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các giáo trình lý luận Triết học Mác - Lênin, cùng các bài viết tổng kết thực tiễn trên Tạp chí Cộng sản và sách chuyên khảo xuất bản tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của khóa luận gồm phần Mở đầu, 2 chương nội dung (chia làm 6 tiết) và phần Kết luận.
Chương 1: Hệ thống chính trị - bộ phận cốt lõi trong kiến trúc thượng tầng và vai trò của nó đối với cơ sở hạ tầng của xã hội
Chương này tập trung giải quyết các vấn đề mang tính lý luận nền tảng về hệ thống chính trị theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn Việt Nam.
-
Khái niệm hệ thống chính trị: Tác giả phân tích lịch sử hình thành thuật ngữ. Trước đây, các nhà kinh điển dùng các khái niệm như "hình thức chính trị", "thể chế chính trị và xã hội", "cơ cấu chính trị", "hệ thống chuyên chính vô sản". Khái niệm "hệ thống chính trị" được các nhà luật học Xô Viết sử dụng từ đầu thập niên 80 của thế kỷ XX và xuất hiện chính thức trong văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu tiên tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI) ở nguyên tắc chỉ đạo đổi mới thứ ba. Tác giả tổng hợp và đưa ra định nghĩa: Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, tồn tại dưới hình thức vật chất (có bộ máy, con người), bao gồm các tổ chức, thiết chế hợp pháp có chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị. Khái niệm này rộng hơn "hệ thống chuyên chính vô sản".
-
Cấu trúc của hệ thống chính trị: Gồm hai phương diện là mặt vật chất (cơ cấu tổ chức) và mặt tinh thần (quan điểm lý luận, chuẩn mực chính trị, pháp lý). Tại Việt Nam, hệ thống chính trị có cấu trúc 3 bộ phận lớn:
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Vừa là thành viên, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội.
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trụ cột và trung tâm của hệ thống chính trị, công cụ quản lý xã hội bằng pháp luật.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội: Cơ sở chính trị của chính quyền, đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân. Các hội nhân đạo, nghề nghiệp đơn thuần (như Hội Khuyến học, Hội Làm vườn) không thuộc hệ thống chính trị.
Cấu trúc này mang đặc tính "cấu trúc kép", các tổ chức thâm nhập, giao thoa nhau trên nền tảng nhân dân (một cá nhân có thể vừa là công dân, vừa là đảng viên, vừa là cán bộ nhà nước và đoàn viên), không đối lập và không loại trừ nhau.
-
Vai trò của hệ thống chính trị đối với cơ sở hạ tầng: Hệ thống chính trị là bộ phận cốt lõi của kiến trúc thượng tầng, có tính độc lập tương đối và tác động trở lại mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng. Tác động này là tích cực khi phù hợp với quy luật kinh tế khách quan và là lực cản nếu đi ngược quy luật. Hệ thống thực hiện chức năng trấn áp (bảo vệ quyền lực giai cấp cầm quyền) song hành cùng chức năng xã hội (quản lý công việc chung, phục vụ cộng đồng) trên cả hai lĩnh vực đối nội và đối ngoại. Trong chủ nghĩa xã hội, hệ thống chính trị vận hành theo cơ chế: "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", lấy việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa làm mục tiêu và bản chất.
| Thành tố trong hệ thống chính trị |
Vị trí / Vai trò trong cấu trúc |
Chức năng chủ yếu đối với cơ sở hạ tầng |
| Đảng Cộng sản Việt Nam |
Hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống và xã hội |
Định hướng chiến lược, hoạch định đường lối phát triển kinh tế - xã hội, kiểm tra và chỉ đạo cán bộ |
| Nhà nước CHXHCN Việt Nam |
Trụ cột, trung tâm quyền lực chính trị |
Quản lý vĩ mô bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; tổ chức điều hành nền kinh tế nhiều thành phần |
| Mặt trận Tổ quốc & Đoàn thể |
Cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân |
Tập hợp lực lượng, vận động quần chúng tham gia phong trào kinh tế, giám sát cán bộ, bảo vệ quyền lợi hội viên |
Chương 2: Vấn đề nâng cao vai trò của hệ thống chính trị đối với cơ sở hạ tầng ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 đi sâu đánh giá thực trạng vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, chỉ ra nguyên nhân và xác lập phương hướng cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.
- Thực trạng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay:
- Thành tựu đạt được:
- Đối với Đảng: Đổi mới tư duy kinh tế và chính trị; tinh gọn một bước bộ máy Trung ương Đảng (bỏ nhiều ban, vụ, cục trung gian); đổi mới quy trình ban hành nghị quyết theo hướng ngắn gọn, dân chủ, lấy ý kiến rộng rãi; đổi mới công tác cán bộ (đánh giá theo hiệu quả thực tế công việc thay vì chỉ dựa vào lý lịch, bằng cấp); phân định rõ hơn phương thức lãnh đạo, khắc phục tình trạng bao biện làm thay chính quyền.
- Đối với Nhà nước: Ban hành Hiến pháp 1992; cải cách hành chính đạt tiến bộ rõ rệt trên 4 mặt: (1) thể chế hành chính (bãi bỏ hàng trăm văn bản pháp quy rườm rà); (2) tổ chức bộ máy (sáp nhập các Bộ quản lý chuyên ngành thành Bộ quản lý đa ngành/liên ngành, xác định Tòa án nhân dân tối cao tập trung xét xử, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tập trung công tố); (3) xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức (ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998, tổ chức thi tuyển, nâng ngạch); (4) cải cách tài chính công (triển khai Luật Ngân sách nhà nước, phân cấp ổn định ngân sách địa phương từ 3 đến 5 năm, lập hệ thống kiểm toán nhà nước, ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng).
- Đối với Mặt trận và các đoàn thể: Đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng theo ngành nghề và địa bàn cư trú; chuyển trọng tâm sang chăm lo lợi ích thiết thực của đoàn viên, hội viên; hàng ngàn hội quần chúng ra đời.
- Hạn chế và yếu kém:
- Công tác xây dựng Đảng chưa đáp ứng yêu cầu; nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm (còn tình trạng tập trung quan liêu, dân chủ hình thức); phương thức lãnh đạo chậm đổi mới, hội họp quá nhiều, xem nhẹ khâu kiểm tra và tổ chức thực hiện; một bộ phận không nhỏ cán bộ suy thoái tư tưởng, sa đọa đạo đức, quan liêu, tham nhũng, cục bộ địa phương.
- Hệ thống pháp luật của Nhà nước thiếu đồng bộ, luật chậm đi vào cuộc sống do thiếu nghị định, thông tư hướng dẫn; thủ tục hành chính còn rườm rà; bộ máy cồng kềnh; trách nhiệm cá nhân người đứng đầu chưa được quy định rõ ràng nên khó quy trách nhiệm khi xảy ra sai phạm; kỷ cương phép nước chưa nghiêm.
- Hoạt động của Mặt trận và đoàn thể còn mang nặng tính hành chính, xơ cứng theo lề lối bao cấp; phương tiện hoạt động lạc hậu; cán bộ cơ sở lúng túng trong thời kỳ bùng nổ thông tin khiến số lượng đoàn viên, hội viên sụt giảm.
- Nguyên nhân của thực trạng: Tác giả phân tích các nguyên nhân khách quan (hậu quả của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài, bối cảnh quốc tế phức tạp, mặt trái của kinh tế thị trường) và nguyên nhân chủ quan (chậm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; thiếu kinh nghiệm và kiến thức quản lý nhà nước về kinh tế thị trường vĩ mô; sự buông lỏng hoặc bao biện của tổ chức đảng; sự suy thoái về phẩm chất của một bộ phận cán bộ).
- Phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò của hệ thống chính trị đối với cơ sở hạ tầng:
- Bốn nguyên tắc định hướng: (1) Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; (2) Thực hiện tốt hơn các nguyên tắc và chức năng của chuyên chính vô sản; (3) Kiên quyết không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; (4) Đổi mới toàn diện nhưng có trọng điểm, giữ vững ổn định chính trị để phát triển kinh tế.
- Nhóm giải pháp trọng tâm:
- Phân định rành mạch chức năng, nhiệm vụ giữa Đảng, Nhà nước và đoàn thể (Đảng lãnh đạo bằng quan điểm, chủ trương, không ra lệnh làm thay; Nhà nước điều hành bằng pháp luật; đoàn thể phát huy tính chủ động vận động quần chúng).
- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể (chấm dứt tình trạng "song trùng" hai bộ máy quyền lực áp đặt, Đảng kiểm tra đảng viên trong bộ máy công quyền, lãnh đạo thông qua tính tiên phong gương mẫu).
- Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân (thực hiện triệt để Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường giám sát từ phía nhân dân).
- Đổi mới căn bản công tác cán bộ (lấy hiệu quả công việc làm thước đo chính, thực hiện luân chuyển cán bộ, quy hoạch cán bộ trẻ, cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ, xử lý nghiêm cán bộ tham nhũng, thoái hóa).
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
Khóa luận đã khái quát hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ. Nghiên cứu đã làm rõ những thành tựu cụ thể về cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, công tác cán bộ sau hơn 17 năm đổi mới; đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn về thể chế hành chính, sự chồng chéo chức năng và sự suy thoái của một bộ phận cán bộ cản trở sự phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế.
Giải pháp và kiến nghị
Tác giả đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ gắn liền với thực tiễn Việt Nam:
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, chuyển mạnh từ phong cách điều hành qua hội họp sang kiểm tra, tổng kết thực tiễn và thể chế hóa đường lối thành luật pháp.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước, đơn giản hóa thủ tục hành chính, khắc phục tình trạng văn bản luật chờ thông tư/nghị định hướng dẫn.
- Xác định rõ chế độ trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu cơ quan công quyền.
- Thực hiện cơ chế phân cấp ngân sách địa phương ổn định từ 3 đến 5 năm nhằm phát huy tính chủ động kinh tế của các cấp chính quyền.
- Đổi mới phương thức sinh hoạt của đoàn thể, khắc phục tình trạng hành chính hóa để tập hợp quần chúng trong nền kinh tế nhiều thành phần.
Đóng góp của đề tài
Theo tác giả tự xác định trong văn bản, đóng góp của khóa luận thể hiện ở hai điểm:
- Trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về hệ thống chính trị, đi sâu phân tích khái niệm, cấu trúc và vai trò tác động trở lại của hệ thống chính trị đối với cơ sở hạ tầng.
- Đưa ra các phương hướng và giải pháp có cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp đại học tại thời điểm năm 2005, đề tài chủ yếu khai thác các nguồn tài liệu lý luận, văn kiện Đảng và báo cáo tổng kết gián tiếp; chưa có điều kiện triển khai các nghiên cứu điều tra xã hội học định lượng diện rộng hoặc khảo sát thực nghiệm chuyên sâu tại từng mô hình chính quyền cơ sở cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sâu về cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện; nghiên cứu thực trạng và mô hình đổi mới hệ thống chính trị ở cấp cơ sở nông thôn và đô thị theo tinh thần cải cách hành chính mới.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên: Các chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Triết học Mác - Lênin, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Quản lý công, Luật học khi cần tài liệu tham khảo về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, cũng như tiến trình cải cách bộ máy nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 1986 - 2005.
- Người nghiên cứu các đề tài tương đương: Phần tổng quan lịch sử thuật ngữ "hệ thống chính trị" (Chương 1) và phần tổng hợp 4 nội dung cải cách hành chính (Chương 2) cung cấp các luận điểm, mốc thời gian văn bản (Hiến pháp 1992, Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998, Hội nghị Trung ương 6 khóa VI) có độ chuẩn xác học thuật cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "hệ thống chính trị" xuất hiện lần đầu tiên trong văn kiện nào của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Khái niệm "hệ thống chính trị" xuất hiện lần đầu tiên tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khóa VI) của Đảng Cộng sản Việt Nam, được nêu trong nguyên tắc thứ ba về đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân.
2. Các tổ chức quần chúng nào theo khóa luận KHÔNG thuộc hệ thống chính trị Việt Nam?
Theo phân tích cấu trúc tại Chương 1, các hội quần chúng hợp pháp mang tính chính trị - xã hội nằm trong hệ thống chính trị; riêng các hội mang tính chất nhân đạo, nghề nghiệp đơn thuần như Hội Khuyến học, Hội Làm vườn... không nằm trong hệ thống chính trị.
3. Bốn nội dung cải cách hành chính nhà nước được khóa luận tổng kết gồm những gì?
Bốn nội dung gồm: (1) Cải cách thể chế hành chính (rà soát bãi bỏ văn bản rườm rà, hoàn thiện khung pháp lý); (2) Tổ chức và cơ chế vận hành bộ máy (sáp nhập, giải thể Bộ chuyên ngành để lập Bộ đa ngành, phân định rõ chức năng xét xử của Tòa án và công tố của Viện kiểm sát); (3) Xây dựng đội ngũ công chức và thể chế công vụ (ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998, thi tuyển nâng ngạch); (4) Cải cách tài chính công (triển khai Luật Ngân sách, ổn định ngân sách địa phương 3-5 năm, lập hệ thống kiểm toán, ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng).
4. Khái niệm "cấu trúc kép" của hệ thống chính trị Việt Nam được tác giả giải thích ra sao?
"Cấu trúc kép" thể hiện ở việc các tổ chức trong hệ thống thâm nhập, giao thoa nhau trên nền tảng nhân dân; một cá nhân công dân có thể đồng thời là thành viên của nhiều tổ chức (ví dụ: một đoàn viên thanh niên có thể vừa là đảng viên Đảng Cộng sản, vừa là cán bộ trong bộ máy nhà nước). Các tổ chức này không đối lập, không loại trừ nhau và cùng vận động theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
5. Khóa luận nêu các nguyên tắc có tính bất di bất dịch nào trong đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta?
Khóa luận khẳng định đổi mới hệ thống chính trị phải giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và kiên quyết không chấp nhận "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập".
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Thị Hương Giang đã làm sáng tỏ một cách toàn diện và có hệ thống cơ sở lý luận Mác - Lênin cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị và vai trò tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng. Tác phẩm đã phân tích thực trạng công cuộc đổi mới hệ thống chính trị qua hơn 17 năm (1986 - 2005), chỉ rõ những thành tựu nổi bật trong cải cách hành chính cũng như những điểm nghẽn về công tác cán bộ và phương thức lãnh đạo. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất các nhóm phương hướng và giải pháp đồng bộ nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.