Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị của Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới" do nghiên cứu sinh Huỳnh Thành Lập thực hiện năm 2009 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng xác lập xu thế lớn là hòa bình, hợp tác và phát triển, đồng thời đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia đang phát triển. Cạnh tranh kinh tế, thương mại, tranh chấp chủ quyền, tài nguyên, diễn biến khí hậu và những vấn đề an ninh phi truyền thống tạo ra sức ép lớn đối với việc duy trì ổn định chính trị - xã hội. Tại Việt Nam, sự chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu nâng cao vai trò của chính quyền nhà nước trong việc tổ chức quản lý xã hội và bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động.

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vận hành trên nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Từ thực tiễn khủng hoảng và sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, việc xử lý mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị trở thành nhiệm vụ lý luận và thực tiễn quan trọng.

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của cả nước, nơi khởi xướng và kiểm nghiệm nhiều chủ trương đổi mới. Tuy nhiên, vấn đề đổi mới hệ thống chính trị để tương thích với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội đô thị còn gặp nhiều khó khăn. Mối quan hệ biện chứng giữa chính quyền đô thị với các thành tố khác trong hệ thống chính trị tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa được phân tích một cách có hệ thống dưới góc độ triết học chính trị. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng tới giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng thành tố; trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải pháp mang tính định hướng nhằm đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày và phân tích cơ sở lý luận chung về chính quyền và hệ thống chính trị theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
  2. Trình bày và phân tích sự thống nhất biện chứng giữa chính quyền và các thành tố trong hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng vận hành của hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất phương hướng và những giải pháp mang tính định hướng đối với việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền và hệ thống chính trị tại Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2009).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu đã công bố theo ba chủ đề chính:

Nhóm chủ đề Tác giả và công trình tiêu biểu Năm công bố / Xuất bản Nội dung trọng tâm
1. Quan điểm chính trị trên thế giới Lewis M. Alexander (Mô – thức chính – trị thế – giới)
Andrew Heywood (Politics)
Stephen D. Tansey & Nigel Jackson (The Basics politics)
Tô Huy Rứa (chủ biên, Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới)
Nguyễn Thế Nghĩa (chủ biên, Đại cương lịch sử các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới)
1963
2007
2008
2008
2002
Khảo sát lý thuyết chính trị học, bản chất thể chế chính trị, phân tích mô hình hệ thống chính trị dân chủ tư sản và xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
2. Tư tưởng Mác - Lênin về chính quyền và hệ thống chính trị Nguyễn Thanh Tuấn, Tần Ngọc Linh, Trần Nguyễn Tuyên (đồng chủ biên, Quan điểm chính trị trong một số tác phẩm kinh điển Mác – Lênin)
Lê Minh Thông (chủ biên, Cơ sở lý luận về hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam)
2008
2008
Luận giải bản chất nhà nước, chuyên chính vô sản, vai trò lãnh đạo của Đảng và mối quan hệ giữa các thiết chế chính trị trong thời kỳ quá độ.
3. Chính quyền và hệ thống chính trị tại Việt Nam Viện Thông tin Khoa học (Cải cách thể chế chính trị)
Đề tài KX05.1993 (Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn quá độ...)
Đề tài KX05.1993 (Đặc điểm, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước...)
Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đoàn Trọng Tuyến, Trần Xuân Sầm (Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta...)
Trần Đình Hoan (chủ biên, Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2020)
Nguyễn Duy Quý (chủ biên, Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới)
Các bài báo của Nguyễn Tĩnh Gia (1993), Trần Ngọc Hiên (1994), Lê Văn Lựu (1995), Lê Hữu Nghĩa (1994)
1995
1993
1993
1999
2008
2008
1993–1995
Phân tích tính tất yếu của đổi mới hệ thống chính trị tại Việt Nam, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và đoàn thể, cải cách hành chính và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các công trình nêu trên đã phân tích khái quát về thể chế chính trị, hệ thống chính trị và nhà nước ở phạm vi toàn quốc hoặc quốc tế, nhưng chưa có công trình nào đi sâu khảo cứu một cách chuyên biệt và có hệ thống về mối quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố khác trong hệ thống chính trị tại một đô thị đặc thù quy mô lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách vận dụng phương pháp luận triết học mác-xít để luận giải sự tương tác giữa Thành ủy, Chính quyền các cấp (HĐND, UBND), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường thời kỳ đổi mới.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ triết học chính trị và triết học lịch sử, dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử:

  • Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng: Chính quyền và hệ thống chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, do cơ sở hạ tầng kinh tế quyết định, nhưng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại cơ sở hạ tầng. Trong đó, chính quyền nhà nước là thiết chế tác động trực tiếp nhất đến cơ cấu kinh tế, còn các thành tố khác tác động gián tiếp thông qua chính quyền.
  • Lý thuyết hệ thống: Luận án xem hệ thống chính trị là một chỉnh thể cấu trúc thống nhất hữu cơ gồm ba thành tố: hệ tư tưởng/quan điểm chính trị, các thiết chế/tổ chức chính trị và những mối quan hệ chính trị nội tại giữa các chủ thể. Hệ thống chính trị mang ba đặc tính cơ bản: tính tương thích với điều kiện kinh tế - xã hội, tính đa dạng - phong phú của các chủ thể và tính không đồng cấp trong quan hệ thứ bậc (theo chiều ngang giữa các thành tố và theo chiều dọc từ trên xuống dưới).
  • Hệ thống quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực chính trị và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Nhấn mạnh quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bản chất giai cấp công nhân gắn liền với tính nhân dân và tính dân tộc, sự kết hợp giữa nguyên tắc tập trung dân chủ với kỷ cương pháp luật.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội:

  • Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Xem xét hệ thống chính trị và các cơ quan công quyền như một cấu trúc hoàn chỉnh có sự phân công, phân cấp và ràng buộc qua lại.
  • Phương pháp lôgích và lịch sử: Phân tích sự hình thành, vận động và chuyển biến của hệ thống chính trị Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh qua các giai đoạn trước và sau năm 1986.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch: Rút ra các kết luận lý luận từ các tài liệu kinh điển và các báo cáo tổng kết thực tiễn.
  • Phương pháp thống kê và điều tra xã hội học: Khảo sát thực trạng tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ và hiệu quả hoạt động của các thiết chế công quyền và đoàn thể.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin; các tác phẩm và bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (từ Đại hội VI đến Đại hội X), các nghị quyết Trung ương và các văn bản chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ, các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, tổ chức cán bộ của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, cùng các quy định pháp luật liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chính quyền và hệ thống chính trị

Chương này tập trung trình bày hệ thống lý luận nền tảng về nhà nước, chính quyền và cấu trúc hệ thống chính trị thông qua hai nội dung lớn:

1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chính quyền và hệ thống chính trị:

  • Chính quyền là quyền lực chính trị được hợp pháp hóa trên cơ sở hiến pháp và pháp luật, là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị về kinh tế nhằm duy trì trật tự xã hội. Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa.
  • Nhà nước thực hiện hai chức năng cơ bản: chức năng chuyên chính (trấn áp các lực lượng phản kháng) và chức năng tổ chức quản lý, xây dựng xã hội mới. Trong đó, chức năng tổ chức và xây dựng đóng vai trò quyết định thắng lợi của chế độ mới.
  • Về cấu trúc hệ thống chính trị chuyên chính vô sản: Bao gồm Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo tối cao, Chính quyền nhà nước giữ vai trò trung tâm quản lý xã hội bằng pháp luật, và các tổ chức quần chúng (nòng cốt là Công đoàn cùng các tổ chức dân lập) làm nền tảng tập hợp và giáo dục nhân dân tham gia quản lý nhà nước.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính quyền và hệ thống chính trị ở Việt Nam:

  • Bản chất dân chủ của Nhà nước: "Nhà nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân...". Cán bộ trong bộ máy chính quyền là "công bộc", "đầy tớ" trung thành của nhân dân, không được làm "quan cách mạng".
  • Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc, dựa trên nền tảng liên minh công nông trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
  • Xây dựng Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ: Chính quyền phải hợp hiến (thông qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu), thực hiện quản lý bằng pháp luật gắn liền với việc đề cao đạo đức cách mạng ("phụng công, thủ pháp, chí công vô tư").
  • Bộ máy chính quyền phải trong sạch, kiên quyết đấu tranh chống ba thứ "giặc nội xâm" gồm tham ô, lãng phí và quan liêu; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức "vừa hồng vừa chuyên".

Chương 2: Sự thống nhất biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương này phân tích cơ cấu tổ chức và mối quan hệ tương tác giữa chính quyền với các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh:

1. Tổ chức, nhiệm vụ và đặc điểm của các thành tố trong hệ thống chính trị Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Khảo sát các thành tố: Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (cơ quan lãnh đạo); Chính quyền các cấp gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân từ thành phố đến quận/huyện, phường/xã (cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính); Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể (Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh).
  • Nhận diện những đặc điểm chi phối hệ thống chính trị Thành phố Hồ Chí Minh: quy mô dân số lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh, cơ cấu kinh tế đa thành phần năng động; là đầu mối giao lưu văn hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; nơi tập trung đông đảo đội ngũ trí thức, công nhân và lực lượng doanh nhân.

2. Sự tác động qua lại giữa chính quyền với các thành tố:

  • Mối quan hệ giữa Đảng bộ Thành phố với Chính quyền: Thành ủy lãnh đạo thông qua việc định hướng các mục tiêu kinh tế - xã hội, bố trí cán bộ chủ chốt và kiểm tra, giám sát hoạt động; chính quyền chịu trách nhiệm thể chế hóa đường lối của Đảng thành các chính sách, quy chế và điều hành thực tế.
  • Mối quan hệ giữa Chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể: Chính quyền tạo điều kiện pháp lý, ngân sách và phương tiện hoạt động cho Mặt trận và đoàn thể; ngược lại, Mặt trận và đoàn thể thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân chấp hành pháp luật và tham gia các phong trào xã hội.

Chương 3: Vấn đề xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới

Chương này làm rõ những bất cập tồn tại và đề xuất các nhóm giải pháp định hướng:

1. Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn:

  • Cơ cấu tổ chức chính quyền đô thị chưa tương thích với tốc độ đô thị hóa và quy chế quản lý đô thị hiện đại; tình trạng phân cấp, phân quyền giữa các cấp chính quyền còn lúng túng.
  • Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền ở một số cơ sở còn biểu hiện bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo; hiện tượng "hành chính hóa" trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân làm giảm tính chủ động của quần chúng.
  • Năng lực quản lý của một bộ phận cán bộ, công chức chưa bắt kịp yêu cầu của kinh tế thị trường; tình trạng quan liêu, phiền hà trong thủ tục hành chính, vi phạm kỷ luật công vụ và lãng phí còn xảy ra.

2. Phương hướng và giải pháp mang tính định hướng:

  • Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Phân định rõ thẩm quyền lãnh đạo của tổ chức Đảng với thẩm quyền điều hành của chính quyền nhà nước; tránh can thiệp sâu vào công việc điều hành cụ thể của cơ quan hành chính.
  • Xây dựng mô hình chính quyền đô thị phù hợp: Đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, minh bạch, một cửa; phân cấp mạch lạc giữa cấp thành phố và cấp quận, huyện.
  • Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức: Chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh, tăng cường đào tạo chuyên môn và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức công vụ; kiên quyết thay thế cán bộ suy thoái, nhũng nhiễu.
  • Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội: Khắc phục bệnh hành chính hóa, hướng trọng tâm về cơ sở, đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng và phát huy dân chủ cơ sở.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ quan điểm mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về chính quyền, nhà nước pháp quyền và hệ thống chính trị trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Vận dụng lý thuyết hệ thống để phân tích cấu trúc, đặc tính và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị cấp địa phương, đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa thiết chế chính quyền với thiết chế lãnh đạo (Đảng) và thiết chế liên kết xã hội (Mặt trận, đoàn thể) trong môi trường đô thị lớn.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức và sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị tại Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, chỉ ra những điểm nghẽn về thể chế quản lý đô thị.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp mang tính định hướng về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ, hoàn thiện bộ máy chính quyền đô thị và nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức đoàn thể nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được thực hiện dưới góc độ tiếp cận triết học chính trị và triết học lịch sử, tập trung vào phân tích các mối quan hệ biện chứng về mặt thể chế và phương thức vận hành trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tính đến năm 2009. Luận án không đi sâu vào phân tích các biến số định lượng kỹ thuật của khoa học hành chính công hoặc các mô hình kinh tế lượng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục khảo sát sự biến đổi trong mối quan hệ giữa chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội khi Thành phố Hồ Chí Minh triển khai các cơ chế đặc thù quản lý đô thị, tổ chức không gian hành chính mới và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị công.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Triết học, Triết học chính trị, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Khoa học chính trị và Hành chính học. Phần tổng quan tư liệu kinh điển và lý luận hệ thống chính trị ở Chương 1 có giá trị tham khảo rõ nét cho việc giảng dạy các môn học lý luận chính trị.
  • Đối với hoạt động quản lý và hoạch định chính sách: Các phân tích thực trạng và giải pháp tại Chương 2 và Chương 3 cung cấp luận cứ hữu ích cho các cơ quan Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc các cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn trong việc kiện toàn bộ máy, cải cách hành chính và đổi mới phương thức phối hợp công tác.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định cấu trúc hệ thống chính trị gồm những yếu tố cơ bản nào?
Theo cách tiếp cận lý thuyết hệ thống của luận án, hệ thống chính trị là một chỉnh thể cấu trúc thống nhất gồm ba thành tố: quan điểm/hệ tư tưởng chính trị; các thiết chế, tổ chức chính trị (Đảng, Chính quyền, các đoàn thể); và các mối quan hệ chính trị tác động qua lại giữa các thiết chế và chủ thể đó.

2. Mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân được tư tưởng Hồ Chí Minh xác định như thế nào trong luận án?
Luận án chỉ rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân là quan hệ phục vụ: nhân dân là chủ thể nắm giữ quyền lực tối cao, còn đội ngũ cán bộ, công chức từ trung ương đến địa phương đều là "công bộc", "đầy tớ" của nhân dân. Mọi hoạt động của chính quyền đều phải xuất phát từ lợi ích hợp pháp của nhân dân.

3. Vì sao luận án khẳng định chính quyền giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị?
Luận án luận giải rằng chính quyền nhà nước giữ vị trí trung tâm vì đây là thiết chế duy nhất nắm giữ quyền lực công cộng hợp pháp, có đầy đủ thẩm quyền ban hành và thực thi pháp luật, quản lý toàn bộ các lĩnh vực kinh tế - xã hội bằng bộ máy hành chính chuyên nghiệp và hệ thống chế tài cưỡng chế. Các thành tố khác trong hệ thống chính trị muốn tác động trực tiếp và rộng khắp đến cơ sở hạ tầng kinh tế đều phải thông qua chính quyền.

4. Điểm nghẽn lớn nhất trong tổ chức bộ máy chính quyền tại Thành phố Hồ Chí Minh được luận án chỉ ra là gì?
Đó là sự chưa tương thích giữa mô hình tổ chức bộ máy hành chính mang tính tầng nấc, phân tán với yêu cầu quản lý nhanh nhạy của một đô thị quy mô lớn; cơ chế phân cấp quản lý còn nhiều vướng mắc; phương thức lãnh đạo của Đảng ở một số cấp còn bao biện hoặc buông lỏng; và tình trạng hành chính hóa trong các tổ chức đoàn thể nhân dân.

5. Nhóm giải pháp trọng tâm nào được luận án đề xuất để đổi mới hệ thống chính trị Thành phố Hồ Chí Minh?
Luận án đề xuất bốn nhóm giải pháp mang tính định hướng: đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền; xây dựng mô hình chính quyền đô thị tinh gọn, minh bạch gắn với cải cách thủ tục hành chính; chuẩn hóa và nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ công chức; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhằm phát huy dân chủ cơ sở.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Huỳnh Thành Lập đã hoàn thành việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học chính trị mác-xít. Bằng việc phân tích hệ thống quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, công trình đã làm rõ đặc điểm vận hành và những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quản lý đô thị thời kỳ đổi mới. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp định hướng trong luận án đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác xây dựng, kiện toàn chính quyền và hệ thống chính trị tại Thành phố Hồ Chí Minh.