CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ HAI ĐẢNG Ở NƯỚC ANH 1. Tình hình nước Anh buổi đầu thời cận đại 1. Chính trị Sau cuộc cách mạng tư sản giữa thế kỷ XVII, nước Anh đã có những chuyển biến căn bản về mặt chính trị. Liên minh tư sản và quý tộc mới đạt được thắng lợi, thiết lập nên một nhà nước quân chủ lập hiến.
Chính tính chất không triệt để của cuộc cách mạng tư sản kết hợp với lịch sử nghị viện lâu đời của nước Anh, đã dẫn tới sự ra đời của chính thể quân chủ đại nghị, nhằm dung hòa lợi ích của giai cấp phong kiến chưa bị đánh bại và giai cấp tư sản đang lên chưa đủ sức mạnh thống trị xã hội. Và sau sự biến chính trị năm 1688 - 1689 hay còn gọi là “Cuộc cách mạng quang vinh”, quyền thống trị của liên minh đó ngày càng được củng cố. Đó là một trong những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện của các đảng chính trị ở nước Anh. Sau khi chế độ phong kiến sụp đổ, việc thay đổi, chuyển giao quyền lực nhà nước không còn được thực hiện theo nguyên tắc kế vị hoặc tùy thuộc vào ý chí cá nhân nhà vua nữa: “Quyền lực nhà nước giờ đây có thể chuyển giao cho cả một tầng lớp hay giai cấp nào đó trong xã hội và là công cụ tốt nhất để đảm bảo lợi ích của giai cấp hay tầng lớp xã hội duy trì và thực hiện nó ” [30;75], và ở nước Anh đó là tư sản và quý tộc mới.
Sau cuộc cách mạng năm 1688 đã xác lập chủ quyền của nghị viện, đặt cơ sở cho chế độ quân chủ lập hiến. Nhưng cuộc cách mạng không giải quyết mối quan hệ giữa quyền hành chính và quyền lập pháp. Từ đây nảy sinh nhu cầu giành quyền lực chính trị để phục vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp mình. Các nhóm quý tộc đầu tiên xuất hiện ở nước Anh trước cuộc chính biến 1688 và cũng là nhân tố thúc đẩy cuộc chính biến này, đã bắt đầu chính thức tham gia vào bộ máy chính trị.
Các nhóm quý tộc này, có thể xem là những đảng chính trị đầu tiên. Nhóm Tories đại diện cho địa chủ kinh doanh ruộng đất; Nhóm Whig đại diện cho giới quý tộc mới giàu có nhờ việc mua những tài sản đất đai trong thời cách mạng và đại tư sản thương nghiệp, chủ ngân hàng và chủ đồn điền ngoài nước. Năm 1689, căn cứ vào “pháp lệnh quyền lợi”, quyền lực của quốc vương đã bị hạn chế, còn quyền lực của quốc hội Anh thì được tăng cao: “Quốc hội đã nắm 9 được toàn bộ các quyền lập pháp, quân sự và tài chính. Nhà vua lúc này chỉ còn lại quyền hành chính, quốc vương bổ nhiệm đại thần của Khu mật viện và cơ quan này chịu trách nhiệm trước quốc vương” [38;94].
Vua Anh William III nguyên là người chấp chính Hà Lan. Ông sở dĩ được lên ngôi vua nước Anh là hoàn toàn do sự giúp đỡ của đảng Whig và Tories. Do vậy, ngay từ đầu nhà vua đã lựa chọn nhân viên trong hai đảng chính trị lớn nói trên để bổ nhiệm làm đại thần của Khu mật viện. Bắt đầu từ khi William III tại vị, ở nước Anh đã đặt ra một tiền lệ: vua phải bổ nhiệm đại thần của Khu mật viện (Viện cơ mật) cùng chính đảng với đảng chiếm đa số ở Hạ viện.
Cũng trong thời kì của vua William III, Khu mật viện đã trở thành nội các. Trong bộ máy nhà nước mới, đặc biệt là sau sự kiện năm 1701, “Luật kế thừa vương vị” được thông qua. Chủ quyền của nước Anh hoàn toàn rơi vào tay nghị viện mà không thuộc Quốc vương. Vua là người đứng đầu nhà nước nhưng không điều khiển công việc quốc gia.
Tổ chức có quyền hành thực tế là nghị viện và trong đó, quyền thống trị thuộc về đảng nào chiếm được đa số ghế. Quyền lực của nghị viện ngày càng được mở rộng, quyền của vua chỉ còn là hình thức, vua không tham gia vào việc nước: “Quốc vương của nước Anh đã mất quyền lực trở thành một ông vua chỉ có hư vị, tức thống mà không trị” [38;97]. Viện cơ mật từ chỗ là cơ quan tư vấn của nhà Vua biến thành nội các, quản lý công việc trong nước. “Chế độ nội các được củng cố, Thủ tướng và Nội các không phụ thuộc vào nhà vua chỉ chịu trách nhiệm trước Nghị viện, Quốc hội thông qua đạo luật về quyền hành hạn chế tối thiểu quyền của vua” [1;100].
Vua không có quyền duy trì hay bãi bỏ luật pháp, đặt thuế hay tuyển binh… nếu không có sự đồng ý của Quốc hội. Quyết định của vua chỉ có hiệu lực khi có chữ ký của Thủ tướng. Trong Hạ nghị viện, đảng đa số được quyền lập Chính phủ, lãnh tụ của đảng trở thành Thủ tướng. Vị thủ tướng đầu tiên của nước Anh là Robert Walpole, ông là người của đảng Whig: “Bắt đầu từ vua George I, nhà vua không tham gia hội nghị nội các và thủ tướng là người lãnh đạo nội các.
Việc nội các có người đững đầu riêng của mình - Thủ tướng, có nghĩa là nội các hoàn toàn thoát ly khỏi sự khống chế của nhà vua” [38;96]. 10 Nghị viện bao gồm Thượng viện và Hạ viện. Các thành viên của Thượng viện là nghiễm nhiên không qua dân bầu. Hạ viện do bầu cử để lựa chọn ra thành phần đảng chiếm đa số là đảng cầm quyền.
Mặc dù vậy quy tắc bầu cử hạ nghị viện cũng rất hạn chế, hủ bại thực trạng là: “Trong số 7 triệu dân Anh, chỉ 25 vạn người có quyền tuyển cử, gần một nửa số nghị viên ở hạ nghị viện là những người được bầu ra từ những thị trấn hoang tàn” [23;57]. Những vùng đó có rất ít dân cư, họ thường phải bầu cử theo ý muốn của chủ đất. Khi mảnh vườn sang tên cho chủ mới thì nghiễm nhiên ông ta được thay thế làm nghị viên đại biểu của nơi đó. Ghế nghị viên còn được xem là một thứ hàng có thể mang ra mua bán.
Như vậy, quyền chính trị của quần chúng lao động và ngay cả các tầng lớp trung gian cũng bị tước đoạt. Quốc hội đã trở thành cơ cấu mất đi sự liên hệ với đông đảo quần chúng. Từ năm 1689 đến 1760, quyền thống trị phần lớn nằm trong tay đảng Whig, và đôi khi đảng Tories lên nắm chính quyền. Mỗi đảng đại diện cho lợi ích của những tập đoàn khác nhau, giữa hai đảng luôn luôn tranh chấp, nhằm chiếm ưu thế và có quyền lực trong Hạ viện.
Tuy vậy cả hai đảng cùng hướng đến việc bảo vệ quyền lợi chung của liên minh giai cấp tư sản và quý tộc. “Sự chia tách giữa các đảng chủ yếu là do sự bất đồng về các chính sách kinh tế - xã hội” [19;22]. Chế độ hai đảng ở Anh bắt đầu từ đây. Vì vậy, trên thực tế đảng cầm quyền ở nước Anh thời cận đại nắm cả quyền lập pháp và hành pháp.
Đây là hình thức nhà nước quân chủ lập hiến đầu tiên trong lịch sử loài người, mà sau này nhiều nước khác lấy nó làm kiểu mẫu. Việc xác lập chế độ quân chủ lập hiến ở Anh được xem xét là: “Sự thống trị của giai cấp đại địa chủ và đại tư sản đã được củng cố, cơ quan quyền lực tối cao của quốc gia và hạ viện đã bị hai chính đảng của họ khống chế hoàn toàn ” [38;98]. Như vậy, từ quá trình hoàn thiện và phát triển thể chế quân chủ lập hiến. Chế độ hai đảng ở nước Anh đã có được nền móng vững chắc: “Bất cứ chính phủ nào muốn tồn tại thì phải được sự ủng hộ của phái đa số trong nghị viện” [11;167].
Kinh tế - xã hội 11 Cuộc cách mạng tư sản Anh đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến, từ đó xóa bỏ được những trở ngại đối với sức sản xuất mới. Tầng lớp đại địa chủ và giai cấp đại tư sản bước lên vũ đài chính trị không bao lâu, đã lợi dụng thượng tầng kiến trúc về mặt chính trị để mưu lợi cho giai cấp của mình. Quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản chủ nghĩa được thúc đẩy nhanh và là những tiền đề của sự chuyển biến trong nền công nghiệp Anh. Hậu quả của những thay đổi về kinh tế sâu rộng đó, đòi hỏi phải có những lực lượng cải cách xã hội là một trong những cơ sở cho việc xuất hiện các đảng phái chính trị: “Trình độ phát triển của xã hội đòi hỏi phải có những lực lượng cải cách xã hội.
Chính những đòi hỏi đó là tiền đề cho việc xuất hiện các đảng phái chính trị ” [9;51]. Một trong những điều kiện quan trọng nhất chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp là sự chuyển biến căn bản trong chế độ ruộng đất. Đó là hiện tượng địa chủ bao chiếm ruộng đất công xã và đuổi nông dân ra khỏi đất canh tác của họ. Lúc này nghị viện Anh lại công khai cho phép bọn địa chủ chiếm cứ đất đai của công xã và đuổi nông dân đi nơi khác: “Trong 60 năm đầu thế kỷ XVIII, chính phủ ban hành 208 điều luật cho phép địa chủ chiếm 312 ngàn mẫu Anh.
Trong 40 năm sau, 2000 điều luật của chính phủ làm cho nông dân bị rào thêm 3180 mẫu Anh, nhiều gấp 10 lần so với trước” [25;59]. Trong suốt các thế kỷ XVI, XVII, và nhất là XVIII, cuộc cách mạng nông nghiệp ở nước Anh đã diễn ra, đóng vai trò quan trọng và trở thành cơ sở đầu tiên của quá trình tích lũy nguyên thủy. Nó tách nông dân khỏi tư liệu sản xuất và tạo nên một đội ngũ công nhân làm thuê trong các cơ sở công nghiệp: “Nông dân bị đuổi ra khỏi ruộng đất, hai bàn tay trắng phải đem bán sức lao động. Một bộ phận trở thành công nhân nông nghiệp, còn phần lớn đổ ra thành thị làm việc trong các xưởng và công trường thủ công.
Họ là đội quân hậu bị lớn lao cho sự phát triển của nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa ” [25;60]. Chính từ cuộc cách mạng nông nghiệp đã chuyển chế độ ruộng đất phong kiến sang chế độ trang trại tư bản chủ nghĩa và mở rộng thị trường trong nước. Tuy nhiên cuộc cách mạng nông nghiệp hoàn toàn không mang lại một chút lợi ích gì cho nông dân và thậm chí tiến tới tiêu diệt giai cấp đó. 12 Bên cạnh đó, chính những cuộc xâm lược đẫm máu ở các nước thuộc địa, đặc biệt là ở Ấn Độ, các nước ở châu Đại Tây Dương và việc buôn bán vô nhân đạo nô lệ da đen người châu Phi: “Số tàu Anh chở người da đen chiếm gấp 3 lần các nước khác.