Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá chính sách xây dựng nông thôn mới. Chương 2: Thực trạng đánh giá chính sách xây dựng nông thôn mới tại Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.
Sự cần thiết của chính sách xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam Việt Nam là nước nông nghiệp với gần 70% dân cư sống ở nông thôn, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững có vai trò hết sức quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của đất nước. Đặc biệt trong xu thế hiện nay, không thể có một nước công nghiệp nếu nông thôn còn lạc hậu và đời sống của người dân còn thấp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2015, Việt Nam có 8.971 xã (chiếm hơn 80%) trong tổng số 11.155 đơn vị hành chính cấp xã; dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm khoảng 66,06% dân số của cả nước; trong khi đó, ngành nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm 17% tổng sản phẩm trong nước. Từ những con số này cho thấy rằng khu vực nông nghiệp, nông thôn mặc dù chiếm tỷ trọng lớn về diện tích và dân số nhưng kinh tế có quy mô nhỏ và đóng góp không nhiều trong tổng số GDP của cả nước.
Chủ trương xây dựng NTM là một việc làm hết sức cần thiết, có thể nói đây là một cuộc cách mạng lớn làm chuyển biến bộ mặt nông thôn, nông nghiệp Việt Nam mà cần phải có sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Xây dựng NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội mà đó là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. Bởi thực tế cho thấy rằng trước khi triển khai thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM, khu vực nông thôn Việt Nam chưa được quan tâm đầu tư đúng mức và đối diện với nhiều thách thức, khó khăn như: Kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi.) còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa yếu, nhiều hạng mục công trình xuống cấp trầm trọng; tỷ lệ đường 11 giao thông nông thôn được bê tông hóa thấp; giao thông nội đồng, thủy lợi ít được quan tâm đầu tư; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; các cơ sở, trang thiết bị, phương tiện đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa còn thiếu và hư hỏng; trụ sở làm việc của các xã xuống cấp trầm trọng. Bên cạnh đó phát triển nông nghiệp thiếu bền vững, thiếu định hướng, còn tự phát; kinh tế phát triển chậm, sản xuất nhỏ lẽ, manh mún, năng suất lao động thấp, chưa có nhiều mô hình sản xuất phù hợp, chất lượng hàng hóa nông sản chưa đủ sức cạnh tranh với thị trường; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng KHCN tiên tiến trong nông nghiệp còn chậm; Sự liên kết 4 nhà (nhà nông – nhà nước – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp) chưa chặt chẽ, đồng bộ dẫn đến việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn rất ít; kinh tế hộ, kinh tế trang trại, HTX còn khó khăn, bất cập, hạn chế, thậm chí hoạt động yếu kém.
Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, lao động đã qua đào tạo còn thấp. Đặc biệt là khu vực nông thôn tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn khá cao. Mặc dù đời sống vật chất và tinh thần có nâng lên nhưng khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị còn tương đối lớn. Đời sống tinh thần của dân cư ở nông thôn còn hạn chế, nhiều nét văn hóa truyền thống đang có nguy cơ mai mọt, biến dạng như: tiếng nói, trang phục, phong tục; an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội một số nơi diễn biến phức tạp, khó lường.
Từ những thực trạng trên đòi hỏi cần phải có chính sách toàn diện để phát triển nông thôn một cách bền vững, đó chính là chương trình MTQG xây dựng NTM. Như vậy việc xây dựng NTM cần phải thể hiện ở các nội dung sau: - Về định hướng phát triển: yêu cầu đầu tiên trong xây dựng NTM là công tác quy hoạch, đây là một nhiệm vụ hàng đầu của xây dựng NTM, là định hướng chiến lược quan trọng và lâu dài để xây dựng, phát triển nông 12 thôn một cách bài bản, chủ động. Các loại quy hoạch cần có: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường, quy hoạch phát triển các khu dân cư. - Về hạ tầng KT-XH: Xây dựng đường giao thông, hệ thống kênh mương thủy lợi, hạ tầng trường lớp học, điện, chợ, cơ sở vật chất văn hóa và đặc biệt là nhà ở dân cư, là tiền đề quan trọng để thay đổi bộ mặt nông thôn, đáp ứng các nhu cầu phát triển KT-XH.
Thực trạng chung của hạ tầng khu vực nông thôn Việt Nam hiện nay là vừa yếu, vừa thiếu đồng bộ, trong khi đó nguồn lực đầu tư hết sức hạn chế, khó khăn. Khi xây dựng NTM, yêu cầu các cấp chính quyền phải huy động, lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ. - Về kinh tế: xây dựng NTM sẽ tạo điều kiện để khu vực nông thôn phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, hướng đến thị trường, giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, nâng cao mức sống và thu nhập cho người dân nông thôn. Để giải quyết tốt vấn đề này, nhà nước phải có cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này; hỗ trợ, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng địa phương; định hướng, hướng dẫn tổ chức sản xuất theo quy hoạch, tính toán, giải quyết hài hòa đầu vào - đầu ra cho sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng đất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ mới trong sản xuất; từng bước chấm dứt tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp, tự phát.
- Về con người, văn hóa, xã hội, môi trường: + Xây dựng NTM đòi hỏi cần phải có con người nông thôn "mới" (có tư duy mới, có kiến thức mới, có ý thức mới và quyết tâm mới và có đời sống văn hóa mới), có trình độ trong sản xuất, văn hóa trong ứng xử, sống hài hòa, thân thiện với môi trường tự nhiên, xã hội và đặc biệt phải biết phát huy vai trò, 13 trách nhiệm là “chủ thể” trong xây dựng NTM. Để làm được điều này phải có quá trình lâu dài, từng bước thay đổi nhận thức, xóa bỏ những tập quán lạc hậu, phản khoa học, hình thành những thói quen mới tiên tiến, văn minh. - Về an ninh, trật tự xã hội và hệ thống chính trị: phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật; gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ, vai trò tự quản của làng, xã. Hệ thống chính trị được xây dựng vững mạnh với đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn mới.
An ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững, người dân yên tâm sống trong môi trường xã hội an toàn. Để làm tốt được việc xây dựng NTM hiệu quả, thành công, Nhà nước đóng vai trò chủ đạo tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kiến thức kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện vật chất, động viên tinh thần để người dân thực hiện. Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách và là “chủ thể” của quá trình xây dựng NTM. Các chính sách xây dựng NTM sẽ tạo hiệu ứng tổng thể, thúc đẩy xã hội nông thôn phát triển theo định hướng của Đảng, Nhà nước.
Khi đó, vai trò của NTM được phát huy tối đa, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đánh giá chính sách xây dựng Nông thôn mới 1. Khái niệm, đặc điểm của đánh giá chính sách xây dựng Nông thôn mới Để đưa ra được cách hiểu về đánh giá chính sách xây dựng NTM cần phải làm làm rõ một số thuật ngữ sau: Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt 14 Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp [33]. Trong quản lý hành chính nhà nước, theo Thông tư 54/2009/TT- BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
Như vậy, nông thôn, trước hết đó không phải là đô thị (về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan hệ con người và sinh kế), là môi trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét đặc thù của khu vực nông thôn. Nông thôn là nơi định cư của những người sống chủ yếu bằng nghề nông, đất đai là tư liệu sản xuất chính; về cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu; bên cạnh nông dân sống bằng nghề nông nghiệp, khu vực nông thôn vẫn có một số ít người sống bằng nghề phi nông nghiệp, chủ yếu là kinh doanh nhỏ, làm nghề truyền thống với phân công lao động giản đơn, trình độ sản xuất không cao. Một trong những đặc điểm lớn của cư dân nông thôn là có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ, khắng khít, tính cộng đồng cao, các thiết chế xã hội như gia đình, dòng họ, làng xóm. chi phối lớn đến hành vi của mỗi người.
Nông thôn mới: Hiện nay có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau về NTM, tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng nhà nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau như: văn hóa, xã hội học, kinh tế, quản lý nhà nước.