Vai trò của cộng hưởng từ khuếch tán trong chẩn đoán phân biệt tổn thương lành và ác tính của trung thất trước 1

Chuyên khảo phân tích Vai trò của cộng hưởng từ khuếch tán trong chẩn đoán phân biệt tổn thương lành và ác tính của trung, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2021

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Cộng hưởng từ trung thất

1.2. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Định nghĩa và phương pháp thu thập số liệu biến số

2.4. Thu thập số liệu

2.5. Xử lý và phân tích số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung, giải phẫu bệnh của mẫu nghiên cứu

3.2. Đặc điểm hình ảnh của mẫu nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung, giải phẫu bệnh của mẫu nghiên cứu

4.2. Đặc điểm hình ảnh của mẫu nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Vai Trò Cộng Hưởng Từ Khuếch Tán Trong Chẩn Đoán Tổn Thương

Cộng hưởng từ khuếch tán (CHT) đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán tổn thương ở trung thất. Với khả năng cung cấp hình ảnh chi tiết về cấu trúc mô, CHT giúp phân biệt giữa tổn thương lành tính và ác tính. Đặc biệt, việc sử dụng hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC) đã mở ra hướng đi mới trong việc đánh giá tính chất của các khối u. Nghiên cứu cho thấy rằng CHT có thể cung cấp thông tin giá trị về sự khác biệt giữa các loại tổn thương, từ đó hỗ trợ bác sĩ trong việc đưa ra quyết định điều trị chính xác.

1.1. Đặc Điểm Của Trung Thất Và Các Tổn Thương Thường Gặp

Trung thất chứa nhiều cấu trúc quan trọng như tuyến ức, tim và các mạch máu lớn. Các tổn thương ở đây có thể là lành tính hoặc ác tính, với u tuyến ức là một trong những loại phổ biến nhất. Việc nhận diện đúng loại tổn thương là rất quan trọng để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

1.2. Lợi Ích Của Cộng Hưởng Từ Trong Chẩn Đoán Hình Ảnh

Cộng hưởng từ cung cấp hình ảnh với độ phân giải cao, giúp bác sĩ dễ dàng nhận diện các đặc điểm của tổn thương. Đặc biệt, CHT không chỉ giúp xác định vị trí mà còn đánh giá tính chất của mô, từ đó hỗ trợ trong việc phân biệt tổn thương lành tính và ác tính.

II. Thách Thức Trong Chẩn Đoán Tổn Thương Lành Và Ác Tính Trung Thất

Chẩn đoán phân biệt giữa tổn thương lành tính và ác tính ở trung thất không phải là điều dễ dàng. Các tổn thương có thể có hình ảnh tương tự nhau, dẫn đến khó khăn trong việc đưa ra chẩn đoán chính xác. Hơn nữa, sự đa dạng về mô bệnh học của các khối u cũng làm tăng độ phức tạp trong việc đánh giá. Do đó, việc áp dụng các phương pháp hình ảnh hiện đại như CHT là cần thiết để cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán.

2.1. Những Khó Khăn Trong Việc Phân Biệt Tổn Thương

Nhiều tổn thương có thể có hình ảnh tương tự nhau trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh truyền thống. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán sai, ảnh hưởng đến kế hoạch điều trị. CHT giúp giảm thiểu vấn đề này bằng cách cung cấp thông tin chi tiết hơn về mô.

2.2. Tác Động Của Đặc Điểm Hình Ảnh Đến Chẩn Đoán

Đặc điểm hình ảnh của tổn thương có thể thay đổi tùy thuộc vào loại mô và mức độ xâm lấn. Việc hiểu rõ các đặc điểm này là rất quan trọng để đưa ra chẩn đoán chính xác và kịp thời.

III. Phương Pháp Sử Dụng Cộng Hưởng Từ Khuếch Tán Trong Chẩn Đoán

Việc áp dụng CHT trong chẩn đoán tổn thương trung thất đã cho thấy nhiều lợi ích. CHT khuếch tán giúp đánh giá sự khác biệt về chuyển hóa và sinh lý giữa các mô, từ đó cung cấp thông tin quan trọng về tính chất của tổn thương. Hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC) là một chỉ số quan trọng trong việc phân biệt tổn thương lành tính và ác tính.

3.1. Nguyên Tắc Hoạt Động Của CHT Khuếch Tán

Nguyên lý của CHT khuếch tán dựa trên sự chuyển động ngẫu nhiên của proton nước trong mô sinh học. Sự cản trở khuếch tán do cấu trúc tế bào sẽ ảnh hưởng đến giá trị ADC, từ đó giúp phân biệt giữa các loại mô khác nhau.

3.2. Đánh Giá Giá Trị ADC Trong Chẩn Đoán

Giá trị ADC thấp thường liên quan đến mô có mật độ tế bào cao, trong khi giá trị cao có thể chỉ ra mô hoại tử hoặc tổn thương lành tính. Việc đánh giá giá trị ADC là một phần quan trọng trong quy trình chẩn đoán.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của CHT Trong Chẩn Đoán Tổn Thương

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng CHT có thể cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán tổn thương trung thất. Việc áp dụng CHT trong thực tiễn đã giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị chính xác hơn, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng CHT có thể là một công cụ hữu ích trong việc phân biệt tổn thương lành tính và ác tính.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về CHT

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng CHT có thể cung cấp thông tin giá trị về tính chất của tổn thương. Các kết quả này đã được xác nhận qua nhiều trường hợp lâm sàng, cho thấy tính khả thi của CHT trong chẩn đoán.

4.2. Ứng Dụng CHT Trong Thực Tế Lâm Sàng

Việc áp dụng CHT trong thực tế lâm sàng đã giúp cải thiện quy trình chẩn đoán. Bác sĩ có thể sử dụng thông tin từ CHT để đưa ra quyết định điều trị kịp thời và chính xác hơn.

V. Kết Luận Về Vai Trò Của CHT Trong Chẩn Đoán Tổn Thương

Cộng hưởng từ khuếch tán đã chứng minh được vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán tổn thương ở trung thất. Với khả năng cung cấp hình ảnh chi tiết và thông tin giá trị về tính chất của mô, CHT giúp bác sĩ phân biệt giữa tổn thương lành tính và ác tính một cách hiệu quả. Tương lai của CHT trong chẩn đoán hình ảnh y học hứa hẹn sẽ còn phát triển hơn nữa, mở ra nhiều cơ hội mới trong việc điều trị bệnh.

5.1. Tương Lai Của CHT Trong Y Học

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, CHT sẽ tiếp tục được cải tiến và ứng dụng rộng rãi hơn trong chẩn đoán. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

5.2. Những Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc xác định rõ hơn vai trò của CHT trong các loại tổn thương khác nhau, từ đó phát triển các phương pháp chẩn đoán hiệu quả hơn.

09/07/2025
Vai trò của cộng hưởng từ khuếch tán trong chẩn đoán phân biệt tổn thương lành và ác tính của trung thất trước 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giải phẫu hình ảnh khoang trung thất Trung thất là khoang giải phẫu nằm giữa hai túi màng phổi. Phía trên là lỗ trên của lồng ngực nơi trung thất thông với nền cổ. Phía dưới là cơ hoành. Trung thất nằm ở phía sau xương ức, trước cột sống.

Hai bên là màng phổi trung thất. Trung thất chứa hầu hết các thành phần quan trọng của lồng ngực, trừ hai phổi, bao gồm nhiều cấu trúc: tim, động mạch chủ ngực và các nhánh, tĩnh mạch chủ và các tĩnh mạch lớn, ống ngực, khí quản, thực quản, hạch, tuyến ức, thần kinh liên sườn, thần kinh hoành, hạch giao cảm…[2],[4] Hình 1.1 Lát cắt ngang quai động mạch chủ “Nguồn: Anderson, 2016” [10] .2 Lát cắt ngang động mạch phổi “Nguồn: Anderson, 2016” [10] Hình 1.3 Lát cắt ngang các buồng tim “Nguồn: Anderson, 2016” [10] .2 Phân chia trung thất Theo quan điểm giải phẫu, trung thất được chia làm 4 ngăn: • Trung thất trên: giới hạn phía trên bởi lỗ trên lồng ngực, phía dưới là mặt phẳng ngang qua ngực (mặt phẳng Ludwig) hay qua góc louis (góc xương ức), bên ngoài là màng phổi trung thất, phía trước là mặt sau của xương ức, và phía sau là mặt trước của 4 đốt sống ngực đầu tiên. • Trung thất trước: giới hạn bởi phía sau là màng ngoài tim, bên ngoài là màng phổi trung thất, và phía trước là xương ức, cơ ngang ngực, sụn sườn 5, 6, 7 bên trái. • Trung thất giữa: giới hạn phía trước và sau là màng ngoài tim, phía trên là mặt phẳng ngang qua ngực (mặt phẳng Ludwig), phía dưới là cơ hoành.

• Trung thất sau: giới hạn phía trước là màng ngoài tim, phía dưới là cơ hoành, phía trên là mặt phẳng ngang qua ngực, phía sau là thân sống ngực 5 đến 12, và bên ngoài là màng phổi [61].4 Giải phẫu phân chia trung thất “Nguồn: Bryan Parker, 2020” [61] Một cách phân chia mới dựa trên hình ảnh cắt ngang, chủ yếu là trên CLVT đã được ITMIG (International Thymic Malignancy Interest Group) phát triển và được chấp nhận như một tiêu chuẩn mới. Trung thất được phân chia thành khoang trước. 7 mạch máu, khoang tạng và khoang cạnh sống dựa trên ranh giới của các cấu trúc giải phẫu trên CLVT [15].5 Giải phẫu phân chia trung thất theo ITMIG Vùng màu tím biểu thị khoang trước mạch máu, vùng màu xanh biểu thị khoang tạng, vùng màu vàng biểu thị khoang cạnh sống “Nguồn: Carter, 2017” [15] 1.3 Tuyến ức Tuyến ức nằm ở trung thất trước, phía trước các mạch máu lớn, từ gốc động mạch chủ ngực lên phía trên. Ở bờ trên, tuyến ức có thể lan đến bờ dưới tuyến giáp và ở bờ dưới lan đến cơ hoành.

Tuyến ức được gắn với tuyến giáp bởi dây chằng giáp-ức. Hình thái tuyến ức rất khác nhau, kể cả ở cùng nhóm tuổi. Thường ở người trẻ, tuyến ức có hai thùy, hình đầu mũi tên hay chữ V. Tuy nhiên nó cũng có thể ở dạng một thùy, ba thùy, hoặc hình giống chữ X hay chữ V ngược.

Độ dày mỗi thùy thường dưới 1,8 cm đối với người trẻ dưới 20 tuổi và dưới 1,3 cm đối với người lớn tuổi. Tuyến ức có thể nặng từ 5-50g, có thể tăng nhẹ trọng lượng trong thập niên đầu và giảm dần sau đó. Khi trẻ lớn lên và hệ thống miễn dịch trưởng thành, tuyến ức trải qua quá trình thoái hóa sinh lý. Cuối cùng tuyến ức được thay thế bằng mỡ, tuy nhiên nó vẫn giữ cấu hình như ban đầu [2],[41].

Kích thước, hình dạng và tín hiệu của tuyến ức bình thường trên CHT thay đổi theo tuổi. Tỉ lệ kích thước giữa tuyến ức và cơ thể là lớn nhất lúc mới sinh. 8 tuyến ức tăng trọng lượng cho đến tuổi dậy thì, và đạt trọng lượng lớn nhất vào khoảng giữa 12 đến 19 tuổi. Từ sau dậy thì, tuyến ức dần dần thoái hóa mỡ và thoái hóa mỡ hoàn toàn ở tuổi 50-60.

Tuyến ức ở trẻ em là một khối mô mềm nằm sau xương ức, dạng hai thùy với bờ lồi. Trong quá trình dậy thì, bờ tuyến trở nên dẹt, và theo thời gian nó vẫn tiếp tục dẹt hoặc trở nên lõm. Đặc điểm hình ảnh của nó trên CHT cũng thay đổi theo thời gian, phản ánh sự thay thế mỡ của tuyến, với tín hiệu cao đồng nhất trên T1W và T2W so với cơ, sau đó tín hiệu giảm dần và trở nên trung gian trên T1W và T2W. Khi tuyến gần như thoái hóa mỡ hoàn toàn, chỉ còn thấy các dải dạng lưới nốt của mô tuyến ức, đôi khi thấy được những đảo nhỏ hình bầu dục của tuyến ức tồn dư (kích thước nhỏ hơn 7mm) và được xem là bình thường [6],[35].6 Tuyến ức bình thường Hình ảnh tuyến ức bình thường trên CHT ở một bé trai 1 tuổi.

Mặt phẳng đứng ngang T1W (A) và T2W (B) cho thấy tuyến ức có tín hiệu đồng nhất, cao hơn cơ trên 2 chuỗi xung và đồng tín hiệu với mỡ trên hình T2W “Nguồn: Manchanda, 2017” [35] .7 Tuyến ức bình thường trên BN nữ 20 tuổi Hình đồng pha (a) và đối pha (b) T1W. Tuyến ức giảm tín hiệu đồng nhất trên hình đối pha so với hình đồng pha.1 Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học, hình ảnh của vài tổn thương choán chỗ trung thất trước thường gặp Trung thất trước chứa tuyến ức, mỡ và hạch bạch huyết, tương ứng với mô bệnh học của hầu hết các u nguyên phát ở đây. Mặc dù 2/3 khối ở trung thất là lành tính, khoảng 59% khối ở trung thất trước là ác tính. Hầu hết u trung thất trước xuất phát từ tế bào biểu mô tuyến ức [9].1 Đặc điểm lâm sàng U tuyến ức là u hiếm gặp xuất phát từ tế bào biểu mô tuyến ức với tỉ lệ mắc khoảng 2,5 trên 1 triệu người mỗi năm.

U tuyến ức hiếm gặp trước 25 tuổi nhưng có phổ phân tán rộng (từ dưới 10 đến trên 80 tuổi [trung bình 50-60 tuổi]), và không có khác biệt về giới tính. Tất cả u tuyến ức, bất kể các loại, đều được xem là ác tính [20]. Gần 50% bệnh nhân không có triệu chứng và tình cờ phát hiện dựa vào khám định kỳ. Ở bệnh nhân có triệu chứng, 50% có liên quan đến hội chứng cận ung (nhược cơ, thiếu máu…), 40% biểu hiện đau và triệu chứng do chèn ép và số còn lại có những triệu chứng toàn thân như mệt mỏi, sụt cân [13].2 Đại thể: U tuyến ức là khối thô, đa thùy, chắc, màu hồng đến xám, có thể chứa các nang, vôi hóa hoặc xuất huyết.

Chúng có thể có vỏ bao, giới hạn rõ với cấu trúc xung quanh hoặc có thể xâm lấn rõ [13]. Có thể xâm lấn đến trung thất sau, cổ, màng phổi. Các khối u có tính xâm lấn cao có thể gây tổn thương các cấu trúc lân cận như mạch máu, màng ngoài tim [63] Hình 1.8 Hình Xquang và CLVT u tuyến ức nhóm B3 U tuyến ức nhóm B3 ở bệnh nhân nam, 35 tuổi, di căn màng phổi. Hình a: Xquang ngực thẳng cho thấy một khối chồng hình rốn phổi trái, với dấu hiệu che lấp rốn phổi (mũi tên chấm trắng) và dấu hiệu xóa bờ tim trái (mũi tên chấm đen).

Bờ động mạch chủ xuống vẫn bảo tồn (đầu mũi tên đen), cho thấy tổn thương thuộc trung thất trước. Vài nốt màng phổi thấy được ở 1/3 trên phế trường trái. Hình b: CLVT có tiêm thuốc tương phản cho thấy một khối tổn thương đậm độ mô mềm (đầu mũi tên trắng) với vài nốt vôi (mũi tên đen) ở phía bên trái của trung thất trước.3 Vi thể Vì tuyến ức bao gồm các thành phần hỗn hợp không đồng nhất của bạch huyết và biểu mô, nên u có nguồn gốc từ tuyến ức có mô bệnh học đa dạng. Phân loại u tuyến ức đã gây nhiều tranh cãi trong lịch sử, nhưng một hệ thống do tổ chức y tế thế giới đưa ra năm 2004 đã được chấp nhận là một phân loại thích hợp với lâm sàng [26].

11 Trong phân loại của WHO năm 2004, 5 nhóm mô học chính của u tuyến ức được gắn nhãn bằng chữ cái hoặc chữ và số để phân biệt với những u tuyến ức rất hiếm gặp khác, 5 phân nhóm chính gồm A, AB, B1, B2 và B3[20]. Phân loại của WHO 2015 có thêm sự bổ sung vào phân nhóm biến thể nhóm A không điển hình [36].1 Các tiêu chuẩn chẩn đoán của u tuyến ức theo phân loại WHO “Nguồn: Marx A, 2015” [36] Phân nhóm Tiêu chuẩn bắt buộc Tiêu chuẩn không bắt buộc Nhóm A Xuất hiện tế bào biểu mô hình thoi (ít Tế bào biểu mô đa nhất là khu trú); có ít hoặc không có tế giác; tế bào CD20+ bào T chưa trưởng thành (TdT+) xuyên suốt trong u. Biến thể A Có tiêu chuẩn của nhóm A; thêm vào: u Tế bào biểu mô đa không điển hoại tử, tăng số lượng phân bào giác; tế bào CD20+ hình (>4/2mm2), nhiều nhân. Nhóm AB Xuất hiện tế bào biểu mô hình thoi (ít Tế bào biểu mô đa nhất là khu trú); có nhiều tế bào T chưa giác, tế bào CD20+ trưởng thành (TdT+) khu trú hoặc xuyên suốt trong u Nhóm B1 Có kết cấu và tế bào học giống tuyến ức: Tiểu thể Hassall; nhiều tế bào T chưa trưởng thành, các khoang quanh mạch khu vực biệt hóa tủy (đảo tủy), ít tế bào biểu mô đa giác hoặc đuôi gai mà không co cụm (<3 tế bào biểu mô kề nhau) Nhóm B2 Tăng số lượng tế bào biểu mô đa giác Đảo tủy; tiểu thể hoặc tế bào đuôi gai đơn lẻ hoặc theo Hassall; khoang cụm xen kẽ với nhiều tế bào T chưa quanh mạch.

trưởng thành Nhóm B3 Tế bào biểu mô đa giác không điển hình Tiểu thể Hassall; từ nhẹ đến trung bình, không có hoặc rất khoang quanh mạch ít cầu nối tế bào; ít hoặc không có tế bào T TdT+ xen kẽ.9 U tuyến ức nhóm A và biến thể nhóm A không điển hình. Hình A: U tuyến ức nhóm A với các vùng tế bào hình thoi ở trên, và tế bào đa giác ở dưới, ngăn cách nhau bởi vách sợi rộng. Hình B và C: U tuyến ức nhóm A không điển hình có các mức độ hoại tử khác nhau trong vùng tế bào đa giác “Nguồn: A.10 Tế bào học của u tuyến ức nhóm B2 theo WHO. Tế bào u lớn với nhân dài hoặc tròn, và nhân xen kẽ với các tế bào lymphô nhỏ.

Marx, 2015” [36] Theo Okumura M. và cộng sự, u tuyến ức nhóm A, AB và B1 có tỉ lệ sống 5 và 10 năm trong khoảng 80-100% [42]. Ngược lại, nhóm B2, B3 có tiềm năng xâm lấn và di căn xa (khoảng 15% ca), thường là đến phổi, gan, xương và mô mềm. Thường gặp hơn (khoảng 25% ca trong vài nghiên cứu), những u này gieo rắc màng phổi.

Di căn hạch rất hiếm gặp [25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ