Đặt vấn đề Chó, mèo là loài động vật linh động, ưa chạy nhảy, đùa giỡn nên dễ gặp phải chấn thương không mong muốn, chủ yếu liên quan đến xương khớp. Theo khảo sát năm 2015, gãy xương ở các chi là một trong những chấn thương thường gặp nhất trong các trường hợp bệnh lý chỉnh hình, chiếm tỷ lệ 69,8% (Lê Quang Thông và Bùi Ngọc Hà, 2015), trong đó gãy xương đùi chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các bệnh gãy xương (Unger và cs. Làm ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể, nhất là sự vận động của chúng, do đó việc phát hiện kịp thời bằng phương pháp x quang giúp cho việc chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giúp giảm sự đau đớn cũng như trách được các dị tật không mong muốn cho con vật. Ngành chấn thương chỉnh hình dành riêng cho thú y được thành lập vào đầu năm 1920 và lần đầu tiên ứng dụng nẹp nhỏ cố định gãy xương đùi trên chó.
Đến năm 1933 ứng dụng nẹp Schroeder-Thomas cho động vật bị gãy xương. Năm 1950, dùng đinh Kuntscher để cố định xương gãy trên chó. Cuối năm 1960 dùng nẹp cố định bên trong được sử dụng phổ biến bởi hiệp hội chấn thương chỉnh hình thế giới (Arbeitsgemenshaft fur Osteosynthese: AO) và cho kết quả rất tốt. Riêng ở Việt Nam, các nghiên cứu đi trước đã ứng dụng thành công X – quang trên hai phương pháp phẫu thuật cố định gãy xương đùi trên chó bằng đinh xuyên tủy và nẹp vít (Lê Quang Thông và cs, 2012; Bùi Ngọc Hà, 2014; Mai Ngọc Tuyền & Nguyễn Bá Tiếp, 2020; Nguyễn Đặng Bảo Ngọc, 2021).
Đây là tiền đề mở ra để tiếp tục nghiên cứu kỹ thuật điều trị này, vì cho đến nay việc nghiên cứu chấn thương và chỉnh hình trên thú nhỏ ở nước ta nói chung là còn khá mới mẻ, còn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng thì chưa có nhiều tài liệu nào mô tả và công bố rộng rãi. Trong khi đó nhu cầu điều trị gãy xương là khá cấp bách, vì thế việc nghiên cứu là khá cần thiết. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp điều trị gãy xương như cố định bên ngoài: nẹp, bó bột hay cố định bên trong như: đinh xuyên tủy, nẹp vít, khung cố định bên ngoài (Meredith K và David, 2015). Gãy xương chịu ảnh hưởng rất lớn của các nguyên nhân như: các yếu tố thuộc về cơ thể, các yếu tố ngoại cảnh, đánh 1 giá các đặc điểm của tổn thương bên trong, bên ngoài và tổ chức kề cận của xương….là mấu chốt quyết định phương pháp điều trị hiệu quả.
Xuất phát từ các vấn đề khoa học và tình hình thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Ứng dụng x quang trong chẩn đoán và đánh giá hiệu quả điều trị ngoại khoa trên xương chi chó mèo bị gãy”. Mục tiêu Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ gãy xương trên thú nhỏ (chó, mèo) qua các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố giống, tuổi, giới tính, tình trạng nuôi nhốt và dùng chẩn đoán hình ảnh để chẩn đoán (X – quang). Theo dõi liệu pháp và hiệu quả điều trị bệnh tại các cơ sở điều trị. Mục tiêu cụ thể Khảo sát các nhóm chó, mèo đến thăm khám và điều trị bệnh liên quan đến xương tại các cơ sở Thú Y tại khu phố 5 – Trảng Bom - Đồng Nai.
Làm rõ các đặc điểm của xương. Ghi nhận tỷ lệ thú nghi bệnh về xương và các yếu tố cảnh hưởng đến bệnh. Ghi nhận triệu chứng lâm sàng của thú bệnh nghi bệnh về xương. Dùng chẩn đoán hình ảnh (X – quang) cho thú, nghi bệnh về xương để xác định chính xác bệnh.
Đánh giá quá trình lành xương bị gãy sau khi điều trị bằng phương pháp bó bột và phẫu thuật. Đưa ra một số giải pháp để phòng tránh. Yêu cầu Thu thập số liệu và hình ảnh chính xác, đầy đủ để xác định được các chỉ số về bệnh lý tại các cơ sở khảo sát. Các ca khảo sát gãy xương được mang đến khám tại các cơ sở thú y trên địa bàn thị trấn.
Số lượng thu thập ít nhất 10% trên tổng số ca đến khám về các bệnh liên quan tới các chi trước và chi sau trên thú.1 Tổng quan về X quang Định nghĩa về X-quang. Tia X hay X quang hay tia Rownghen là một dạng của sóng điện từ mà mắt thường không nhìn thấy được, có bước sóng trong khoảng từ 0,01 đến 10 nm. Tia X có khả năng đâm xuyên mạnh có tác dụng làm đen kính làm phát quang một số chất, ion hóa không khí và hủy tế bào. Bước sóng của nó ngắn hơn tia tử ngoại nhưng dài hơn tia Gamma.
Những tia X có bước sóng từ 0,01 nm đến 0,1 nm có tính đâm xuyên mạnh hơn nên gọi là tia X cứng. Những tia X có bước sóng từ 0,1 nm đến khoảng 1 nm có tính đâm xuyên yếu hơn được gọi là tia X mềm. Lịch sử ngành X-quang Tia X được nhà bác học người Đức Roentgen phát hiện ra vào 8/11/1895 khi ông cho tay vào tấm chiếu của ánh sáng huỳnh quang từ ống Crookes, với phát minh này ông nhận được giải thưởng Nobel vào năm 1901, cho đến nay đã có được những bước tiến dài trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị y học. Phim X quang đầu tiên là tấm kính tráng nhũ tương muối bạc, sau nhiều năm được thay thế bằng phim tráng nhũ tương 2 mặt cảm thụ tia X.
Trong những thập kỷ 1910 – 1920, Bucky – Potter đã cải thiện chất lượng hình ảnh nhờ xóa nhòa được tia khuyếch tán bằng lưới chống mờ. Coolidge, Bowers tạo ra bóng có dương cực quay, tăng tuổi thọ của bóng. Ngày nay nhờ kỷ thuật số hóa đã mở cho hình ảnh X – quang một hướng mới, X – quang số hóa. Phim thường chuyển thành phim in bằng tia Laser là tiền đề cho môn chẩn đoán hình ảnh hiện đại ra đời (Trần Thị Hoàng Yến, 2008).2 Vật lí quan tuyến X Phát hiện tia X Năm 1895 khi cho một ống phóng tia catốt hoạt động, Rơnghen nhận thấy rằng từ vỏ thủy tinh đối diện với catốt có một bức xạ được phóng ra.
Bức xạ này 3 mắt không trông thấy nhưng lại làm đen một tấm kính ảnh, mà ông vẫn gói kín và đặt trong hộp. Không hiểu rõ bản chất của tia này nên ông tạm gọi là tia X, sau này ta còn gọi nó là tia Rơnghen. Bản chất quang tuyết X Quang tuyến X là những chấn động điện tử bao gồm những sóng xoay chiều theo chu kỳ, cùng một loại với ánh sáng, sóng vô tuyến điện. Đặc điểm của bức xạ này là truyền đi với tốc độ gần giống nhau (khoảng 300.000km/s) chỉ khác nhau về bước sóng và chu kì tần số.
Sau đây là bảng so sánh bước sóng của các loại sóng điện tử: Sóng vô tuyến điện phân chia ra: Sóng dài: 1000m đến 10000m. Sóng trung bình: 100m đến 1000m Sóng ngắn: 10m đến 100m Sóng cực ngắn: 1m đến 10m Sóng đecimet: 1dm đến 10dm Sóng centimet, sóng milimet,…. Tia hồng ngoại: 30µ đến 0,9 µ (µ là ký hiệu viết tắt của micromet) Ánh sáng mắt nhìn thấy: 0,8 µ đến 0,4 µ Tia tủ ngoại: 0,39 µ đến 0,10 µ Tia X: 1000A0 đến 0,01A0 (A0 là ký hiệu angstrom) Tia gamma: 0,01 A0 đến 0,0001 A0 Tia X có khả năng xuyên thấu vật chất (điều mà ánh sáng thường không thể có được), khi đâm xuyên tia X bị suy giảm (Võ Thị Bích Châu, 2010). Độ suy giảm của tia X tùy thuộc vào độ dày vật chất và số nguyên tử tạo nên vật chất.
Độ dày của vật càng dày thì khả năng xuyên thấu của tia X càng thấp.3 Nguyên lý chẩn đoán X quang Nguyên lý chung Chẩn đoán X quang là những phương pháp dùng tia rơnghen để khám xét trong cơ thể người và động vật. 4 Chẩn đoán X quang được căn cứ trên: Tính chất đâm xuyên sâu của quang tuyến X. Sự hấp thụ quang tuyến X khác nhau của các phần tử trong cơ thể. Sự hấp thụ khác nhau ấy có hai nguyên nhân: Các nguyên tử cấu tạo nên các tổ chức trong cơ thể có trọng lượng nguyên tử khác nhau.
Những phần mềm cấu tạo bởi những nguyên tử nhẹ hơn như: H, C và O, còn bộ xương thì cấu tạo bởi những nguyên tố có nguyên tử số cao hơn như: Photpho và Canxi. Trong các mô, các nguyên tử không tụ tập lại đặc như nhau, như những cơ quan chứa hơi thì tia X xuyên qua dễ hơn là những cơ quan chứa nước. Chất lượng của hình ảnh X quang Theo Thái Khắc Châu và cộng sự (2008) cho biết chất lượng hình ảnh y học nói chung, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phương pháp ghi hình, đặc điểm của thiết bị, người vận hành kĩ thuật… Các chất lượng hình ảnh phụ thuộc vào năm yếu tố như độ tương phản, hình mờ, hình nhiễu, ảnh giả, hình biến dạng. Riêng hình ảnh X quang có hai yếu tố quan trọng.
Sự rõ nét của hình ảnh là sự phân biệt giữa các đường khác nhau trên phim, độ rõ nét càng cao đường bờ càng rõ, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Kích thước tiêu điểm phát tia, nếu càng nhỏ độ nét càng cao và ngược lại. Khoảng cách vật phim, càng gần phim thì càng rõ và ngược lại. Theo Võ Thị Bích Châu (2010), Do tia X đi thẳng và tỏa ra trùm lên một diện tích nên khoảng cách tiêu điểm càng tăng thì lượng tia tại vật giảm. Thời gian chụp càng ngắn, hạn chế được sự chuyển động hình ảnh càng rõ.
Hơi nằm trên và mức dịch nằm ngang, hình này chỉ thấy khi chùm tia song song với mức dịch. Cách đọc phim X quang Cách đọc phim X quang gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 là phân tích hình ảnh, giai đoạn 2 là tổng hợp các dấu hiệu để đưa ra chẩn đoán chính xác nhất. 5 Phân tích hình ảnh là động tác quan sát, mô tả về tư thế bệnh nhân, phương pháp chụp và hình dáng, kích thước, vị trí, tính chất của hình ảnh bình thường hoặc bất thường khi so sánh với giải phẫu X quang, tập hợp thành các triệu chứng, hội chứng. Trong giai đoạn này cần tránh sai lầm hoặc bỏ sót, do đó cần quan sát tỉ mỉ.
( Vũ Biển, 2013) Tổng hợp các dấu hiệu là giai đoạn tổng kết, đối chiếu các dấu hiệu nói trên với triệu chứng lâm sàng, các xét nghiệm khác. Để hướng đến chẩn đoán gần đúng với giải phẫu bệnh nhất, giai đoạn này rất phụ thuộc vào kỹ năng của từng nhà chẩn đoán hình ảnh học.