Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu xương hàm dưới 1. Giải phẫu xương hàm dưới Xương hàm dưới (XHD) được hình thành vào tuần thứ sáu và thứ bảy trong thời kỳ phôi thai lúc này trung mô vây quanh sụn của mỏm hàm dưới và trải qua quá trình cốt hóa màng [3]. Đây là xương lớn và khỏe nhất của khối xương mặt, gồm một thân hình móng ngựa mà bờ trên có các huyệt răng để chân răng cắm vào, hai đầu thân xương hàm dưới nối với hai cành hướng lên trên gần như thẳng đứng, xương hàm dưới khớp vào hố hàm bởi khớp thái dương hàm, do vị trí nhô trên khối mặt, gãy xương hàm dưới rất thường xảy ra [5], [15].
Trên thực nghiệm, lực cần thiết gây gãy XHD lớn gấp 4 lần so với gãy xương hàm trên [10], [37], [38], [50]. Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng, gãy XHD nhiều gấp đôi gãy xương hàm trên [24], [41], [43], [49]. Về phương diện cấu trúc, xương hàm dưới có những vùng yếu và gãy xương thường xảy ra ở những vùng yếu này. Những yếu tố góp phần tạo thành các vùng yếu bao gồm mật độ xương, các răng và vị trí bám các cơ nhai.
Theo Champy (1978), gãy xương hàm dưới xảy ra ở những vị trí chịu lực căng. Champy cũng ghi lại sự phân bố lực căng trên xương hàm dưới khi tác động lực từ vùng cằm hoặc thân xương. Ở phía trước xương hàm dưới không có đường tăng cường lực, bù lại xương hàm dưới rất dày, nhất là vùng cằm. Ống thần kinh răng dưới đi trong thân xương từ lỗ hàm đến lỗ cằm theo một đường cong lõm phía trên [6], [10], [37].
Mặt trong xương hàm dưới có 4 gai cằm, là nơi bám của cơ cằm móng và cơ cằm lưỡi. Trong gãy xương hàm dưới, cơ này góp phần gây di lệch thứ phát nhất. 4 Lỗ ống thần kinh răng dưới Hố dưới lưỡi Lỗ cằm Đường chéo ngoài Nền xương hàm dưới Hình 1.1: Hình thể ngoài xương hàm dưới (Nguồn: Giải phẫu đầu mặt cổ, 2017 [5]) Góc hàm là vị trí tiếp nối giữa thân xương và cành lên xương hàm dưới. Đây là vị trí yếu của xương hàm dưới và thường bị gãy [15].2: Hình thể trong xương hàm dưới (Nguồn: Giải phẫu đầu mặt cổ, 2017 [5]) 5 1.
Các cơ bám vào xương hàm dưới: - Cơ cắn tham gia kéo hàm dưới lên trên và ra trước: cơ cắn bám từ cung tiếp và xương hàm trên đến bám vào phần dưới của mặt ngoài cành lên và góc hàm cho tới bờ dưới thân xương hàm dưới [3]. - Cơ kéo hàm dưới lên trên và ra sau: cơ thái dương bám từ sàn của hố thái dương và mạc thái dương đến bám vào bờ trước mỏm vẹt và bờ trước cành lên xương hàm dưới. Cơ chân bướm trong bám từ mặt trong mảnh chân bướm ngoài, mỏm tháp xương khẩu cái, củ xương hàm trên đến bám vào mặt trong cành lên xương hàm dưới và góc hàm [5]. - Cơ kéo hàm sang bên: cơ chân bướm ngoài bám từ mặt ngoài cánh lớn xương bướm và mặt ngoài mảnh chân bướm ngoài đến bám vào cổ lồi cầu và bao khớp thái dương hàm [5].
- Nhóm cơ hạ hàm: gồm các cơ trên móng và bụng trước cơ nhị thân - Khi gãy xương hàm dưới, do sự co kéo của các cơ này, đoạn gãy bị di lệch [3].3: Hình ảnh cơ cắn và cơ thái dương (Nguồn: Textbook of Advanced Oral, Maxillofacial Surgery, 2013 [37]) 6 Cơ hàm - móng Cơ nhị thân Cơ trâm - móng Hình 1.4: Hình ảnh cơ hàm – móng. (Nguồn: Textbook of Advanced Oral, Maxillofacial Surgery, 2013 [37]) Trong gãy XHD, xương gãy có thể do lực tác động trực tiếp hoặc gián tiếp. Chi tiết cơ chế chấn thương cần được ghi nhận đầy đủ về hướng, độ lớn của lực cũng như vị trí đặt lực. Tùy thuộc cường độ lực, hướng lực và cấu trúc giải phẫu, XHD có thể gãy tại một hoặc nhiều vị trí đồng thời [43], [44].
Chấn thương gãy XHD do tai nạn giao thông gây ra lực tác động lớn có khuynh hướng tạo ra gãy nhiều vị trí, gãy phức tạp, gãy vụn, gãy kết hợp XHD [23], [42], [43]. So với chấn thương gãy XHD do tai nạn giao thông thì gãy XHD do đánh nhau ít nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, gãy XHD không những xảy ra ở vị trí đặt lực mà còn gãy xảy ra ở vị trí gián tiếp ở những vùng yếu XHD [28], [35]. Phân loại gãy xương hàm dưới Phân loại gãy xương hàm dưới có vai trò quan trọng trong việc xác định kế hoạch điều trị, tiên lượng và so sánh các kết quả điều trị [37].
Có nhiều cách phân loại gãy xương hàm dưới khác nhau. 7 Các tác giả phân loại gãy xương hàm dưới thường dựa vào các đặc điểm như vị trí giải phẫu, vị trí gãy và cung răng, kiểu gãy, hay sự thông thương với môi trường ngoài. Ngoài ra, chiều hướng của đường gãy được nhiều nhà lâm sàng đề cập trong phân loại gãy xương hàm dưới. Vì thế phân loại chứa đầy đủ các thông tin gãy xương hàm dưới, đơn giản dễ nhớ, giúp chẩn đoán nhanh, sớm xác định kế hoạch điều trị luôn là vấn đề cấp thiết đặt ra cho các nhà nghiên cứu lâm sàng.
Phân loại gãy xương hàm dưới theo Nguyễn Bắc Hùng (2006) Căn cứ vào vị trí đường gãy, tính chất tổn thương phần mềm, liên quan của đường gãy với cung răng và các xoang hốc tự nhiên ở vùng hàm mặt mà người ta chia thành hai loại [10]: - Gãy xương hở: ổ gãy có liên quan đến vết thương phần mềm, đường gãy đi ngang qua cung răng hoặc đường gãy thông vào các xoang hốc tự nhiên (xoang hàm, khoang miệng…). - Gãy xương kín: không có vết thương phần mềm, không thông vào các xoang hốc tự nhiên, không đi qua cung răng như gãy ngành lên, mỏm vẹt, lồi cầu, gãy mẻ bờ dưới xương hàm… 1. Phân loại gãy xương hàm dưới theo Dingman và Natvig (1964) Tác giả dựa theo vị trí giải phẫu chia vị trí gãy xương hàm dưới thành 8 vùng [10]: - Gãy cằm giữa: Đường gãy đi qua giữa 2 răng cửa giữa hàm dưới. - Gãy cằm bên: Đường gãy nằm ở vùng cằm không qua giữa hai răng cửa giữa.
Đường gãy nằm giữa khoảng mặt xa răng nanh hai bên theo chiều đứng. - Gãy cành ngang: Đường gãy nằm giữa khoảng từ mặt xa răng nanh đến bờ trước cơ cắn. - Gãy góc hàm: Đường gãy nằm trong giới hạn từ bờ trước cơ cắn đến vị trí bám sau trên của cơ cắn. 8 - Gãy cành lên: Đường gãy từ vị trí bám sau trên của cơ cắn đến giới hạn trên bởi hai đường đi qua khuyết sigma.
- Gãy lồi cầu: Đường gãy vị trí lồi cầu, giới hạn từ khuyết sigma lên trên ra sau. - Gãy mỏm vẹt: Đường gãy vị trí mỏm vẹt, giới hạn từ khuyết sigma lên trên ra trước. - Gãy xương ổ răng: Gãy phần xương hàm mang răng (từ chóp răng lên trên). Phân loại theo ICD - DA (2003): áp dụng cho bệnh học răng miệng: S02.65: Gãy đường giữa cằm (Fracture of Symphysis) S02.67: Gãy nhiều đường XHD (Multiple fracture of mandibule) S02.69: Gãy XHD phức tạp (Fracture of mandible, part unspecified).
Phân loại này dễ thống kê nhưng thiếu các thông tin cần thiết như kiểu gãy, hướng di lệch, răng trên đường gãy không giúp đưa ra kế hoạch điều trị [12]. Phân loại theo Kruger và Schilli (1982): Kruger và Schilli đã tổng hợp các phân loại để đưa ra một phân loại đường gãy XHD thành bốn nhóm. Liên quan đến môi trường bên ngoài Liên quan đến kiểu gãy Liên quan đến tình trạng răng hiện diện trên cung hàm Liên quan đến vị trí đường gãy 9 Phân loại của Kruger và Schilli là tương đối đầy đủ và có giá trị nhất trong các phân loại nêu trên [10]. Phân loại theo cơ sinh học: Phân loại theo cơ sinh học được phân loại cơ bản gồm hai loại như sau: Gãy thuận lợi: đường gãy và hướng co cơ giữ đường gãy lại làm đường gãy ít hoặc không di lệch.
Gãy không thuận lợi: đường gãy và hướng co cơ gây nên di lệch [37]. Ngoài ra gãy xương hàm dưới còn được phân loại sau [15]: Di lệch ngang thuận lợi và không thuận lợi. Di lệch dọc thuận lợi và không thuận lợi.5: Di lệch thuận lợi (1) và không thuận lợi (2) theo chiều trên dưới (Nguồn: Textbook of Advanced Oral, Maxillofacial Surgery, 2013 [37]) Hình 1.6: Di lệch thuận lợi và không thuận lợi theo chiều ngoài trong. Chẩn đoán gãy xương hàm dưới [15] 1.
Triệu chứng lâm sàng Gãy vùng cằm - Chức năng: tự nhiên đau ít. - Khám ngoài miệng: + Tụ máu bầm tím vùng cằm, sưng nề và có thể kèm theo rách da môi cằm. + Ấn đau chói vùng cằm. - Khám trong miệng: + Bầm tím lợi và ngách lợi, kẽ răng nơi đường gãy đi qua rộng ra.
+ Lung lay, gãy hoặc mất răng, khớp cắn sai ít. Gãy cành ngang - Chức năng: đau, không nhai được, khó nuốt và khó phát âm, dấu hiệu Vincent (tê môi cằm cùng bên) nếu gãy qua ống thần kinh răng dưới. - Khám ngoài miệng: mặt biến dạng, cằm hơi lệch về bên gãy, rách da, sưng nề, tụ máu dưới da, có thể lan rộng lên má và xuống cổ. Ấn đau chói, sờ có dấu mất liên tục của xương, khuyết bậc thang.
- Khám trong miệng: + Khi ngậm miệng: vén môi má sẽ thấy khớp cắn sai, đoạn gãy ngắn chạm với hàm trên, đoạn dài bị kéo xuống dưới gây ra hở khớp cắn. + Khi há miệng: biến dạng cung răng, ở nơi gãy, đoạn ngắn đổ về phía lưỡi, nhưng đôi khi có thể ở ngoài đoạn dài nếu bị vướng, nhưng bao giờ cũng ở cao hơn đoạn dài, đoạn dài bị kéo xuống thấp và lệch về bên gãy; có thể rách lợi, răng lung lay hoặc chảy máu nếu bệnh nhân đến sớm, di động đoạn gãy dễ dàng; có thể ấn ở ngách hàng lang để tìm điểm đau chói hoặc di chuyển hai đoạn xương để xác định đường gãy [20], [34]. 11 Gãy góc hàm: - Chức năng: đau nhẹ, nhai kém hoặc không nhai được. Dấu hiệu Vincent (tê môi cằm cùng bên) có thể dương tính.
- Khám ngoài miệng: + Sưng nề và bầm tím góc hàm. + Ấn đau chói. - Khám trong miệng: + Há miệng hạn chế. + Rách lợi, chảy máu vùng răng 8.
+ Nếu gãy có di lệch khớp cắn sai, lệch hàm về bên gãy, khớp cắn chạm sớm bên gãy. Gãy cành lên - Chức năng: đau khó há miệng, không nhai được - Khám ngoài miệng: + Sưng nề và bầm tím. + Đau dọc đường gãy, cằm hơi lệch về phía đường gãy. - Khám trong miệng: + Có dấu hiệu khớp cắn hai thì.