Chương 1: Cơ sở lý luận – Trình bày những kiến thức và nền tảng lý luận cho toàn bộ đề tài. Chương 2: Đánh giá thực trạng – Trình bày thực trạng của những vấn đề chính yếu của đề tài. Chương 3: Giải pháp – Trình bày những phân tích, đánh giá, và đề xuất nhằm hỗ trợ giải quyết thực trạng của các vấn đề chính yếu nêu ra ở Chương 2 và cải thiện những vấn đề này. ---oOo--- ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP – NĂM 2012 | CHUYÊN NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN TRỊ 16 Management Information Systems NGUYỄN CẨM PHÁT – SINH VIÊN KHÓA 24, KHOA CNTT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM CHƢƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ – E-LEARNING ---oOo--- 1.
TỔNG QUAN VỀ PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ: 1. Khái niệm về phần mềm tự do, phần mềm mã nguồn mở: Tổ chức Phần mềm tự do (Free Software Foundation – FSF) đã đƣa ra 4 định nghĩa cho phần mềm tự do nhƣ sau: Một chƣơng trình đƣợc gọi là phần mềm tự do nếu ngƣời sử dụng chƣơng trình này có đƣợc 04 sự tự do thiết yếu sau đây: i. Tự do chạy chƣơng trình cho bất cứ mục đích nào (freedom 0). Tự do nghiên cứu cách hoạt động của chƣơng trình, và tự do thay đổi chƣơng trình này để nó hoạt động nhƣ mình mong muốn (freedom 1).
Việc truy cập vào mã nguồn là điều kiện tiên quyết cho điều này. Tự do phân phối lại những bản sao của phần mềm (freedom 2). Tự do phân phối lại những bản sao đã sửa đổi của phần mềm (freedom 3). Việc truy cập đến mã nguồn là điều kiện tiên quyết cho điều này.
Cũng có những quan điểm tƣơng đồng với định nghĩa trên, tổ chức Sáng kiến mã nguồn mở (Open Source Initiative – OSI) đã đƣa ra 10 định nghĩa (Difinition) về phần mềm mã nguồn mở (PMMNM). Do OSI là tổ chức phê duyệt các giấy phép dành cho phần mềm mã nguồn mở vì vậy các định nghĩa của OSI đƣa ra đều dựa trên giấy phép đi kèm với PMMNM khi những phần mềm này đƣợc phát hành. Nội dung của 10 định nghĩa này khá dài và đƣợc trình bày chi tiết tại địa chỉ http://www.org/docs/osd. Dƣới đây là phần giản lƣợc 10 định nghĩa của OSI về phần mềm mã nguồn mở: ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP – NĂM 2012 | CHUYÊN NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN TRỊ 17 Management Information Systems NGUYỄN CẨM PHÁT – SINH VIÊN KHÓA 24, KHOA CNTT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM Mã nguồn mở không chỉ mang ý nghĩa là „đƣợc tiếp cận mã nguồn‟, những điều khoản về việc phân phối PMMNM cũng tuân theo những tiêu chí sau đây: i.
Tái phân phối miễn phí (Free redistribution): Tự do phân phối lại phần mềm nhƣ là một phần của một phần mềm khác. Mã nguồn (Source code): Mã nguồn phải đi kèm theo chƣơng trình hoặc dễ dàng có đƣợc bằng việc tải về từ Internet. Sản phẩm phái sinh (Derived works): Cho phép phát triển và phân phối sản phẩm phái sinh theo cùng điều khoản với sản phẩm gốc. Tính toàn vẹn về mã nguồn của tác giả (Integrity of the author's source code): Có thể phân phối các sản phẩm phái sinh và các sản phẩm phái sinh này có thể đƣợc yêu cầu mang tên và số phiên bản khác với sản phẩm gốc.
Không phân biệt đối xử giữa những nhóm hoặc những cá nhân (No discrimination against persons or groups): Giấy phép không đƣợc phân biệt đối xử với bất cứ ngƣời hoặc nhóm ngƣời nào. Không phân biệt đối xử giữa những lĩnh vực sử dụng khác nhau (No discrimination against fields of endeavor): Tự do sử dụng chƣơng trình vào các lĩnh vực đặc thù. Sự phân bổ giấy phép (Distribution of license): Trong trƣờng hợp tái phân phối, không đòi hỏi thêm giấy phép. Giấy phép không được đặc thù đối với một sản phẩm (License must not be specific to a product): Trong trƣờng hợp tái phân phối, không đòi hỏi thêm giấy phép, giữ nguyên quyền nếu tách ra và sử dụng vào mục đích khác.
Giấy phép không được giới hạn các phần mềm khác (License must not restrict other software): Khi một phần mềm đƣợc phân phối cùng một phần mềm đƣợc cấp phép thì nó không bị ảnh hƣởng bởi giấy phép. ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP – NĂM 2012 | CHUYÊN NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN TRỊ 18 Management Information Systems NGUYỄN CẨM PHÁT – SINH VIÊN KHÓA 24, KHOA CNTT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. Giấy phép phải trung lập về mặt công nghệ (License must be technology-neutral): Các điều khoản trong giấy phép không đƣợc phép dựa vào bất cứ một công nghệ hoặc kiểu cách giao diện nào. Sự nhập nhằng về mặt thuật ngữ: Dễ nhận thấy rằng giữa 4 định nghĩa của FSF và 10 định nghĩa của OSI có một số nét tƣơng đồng nhất định.
Chính vì vậy dẫn đến một sự nhập nhằng về mặt thuật ngữ. Thậm chí có một số phần mềm đƣợc phát hành theo giấy phép GNU General Public License (do tổ chức phần mềm tự do FSF soạn thảo) nhƣng lại tự giới thiệu mình là phần mã nguồn mở thay vì phần mềm tự do. Có thêm hai thuật ngữ nữa là FOSS (Free Open Source Software) và FLOSS (Free/Libre Open Source Software) cũng đƣợc dùng để gọi tên những phần mềm có các tính chất phù hợp với những định nghĩa và tiêu chí của FSF và OSI. Thuật ngữ FOSS đề cập đến cả “tính tự do” cũng nhƣ “tính mã nguồn mở” của phần mềm, và sự hiện diện của thuật ngữ FLOSS nhằm làm rõ hơn cho thuật ngữ FOSS.
Do đó chúng ta cần chú ý rằng, từ Libre trong thuật ngữ FLOSS là một từ ngữ gốc Latin, nó có vai trò là diễn giải cho từ “Free” trƣớc nó mang ý nghĩa là “tự do” chứ không phải mang nghĩa “miễn phí”. Vì vậy, hầu nhƣ không có sự khác biệt giữa hai thuật ngữ FOSS và FLOSS. Tóm lại: Có thể hình dung rằng, các thuật ngữ sau đây: Phần mềm tự do (Free software) Phần mềm mã nguồn mở (Open source software) Phần mềm tự do mã nguồn mở (Free open source software hay Free/Libre open source software) đều được dùng để gọi tên những phần mềm có các tính chất phù hợp với những định nghĩa của Tổ chức phần mềm tự do (FSF) và/hoặc các tiêu chí của tổ chức Sáng kiến mã nguồn mở (OSI) ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP – NĂM 2012 | CHUYÊN NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN TRỊ 19 Management Information Systems NGUYỄN CẨM PHÁT – SINH VIÊN KHÓA 24, KHOA CNTT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM Trong phạm vi nội dung của tài liệu này, em xin đƣợc dùng thuật ngữ Phần mềm mã nguồn mở (Open Source Software) do tính phổ biến và dễ hình dung của thuật ngữ này. Thuật ngữ Copyleft và giấy phép phần mềm mã nguồn mở: Nói đến các giấy phép mã nguồn mở, chúng ta cần quan tâm đến thuật ngữ Copyleft – đây chính là một hình thức chơi chữ của Copyright – bản quyền.
Copyright một phần mềm là để tránh việc ngƣời dùng tìm hiểu cách thức hoạt động của phần mềm, không cho phép họ sửa đổi phần mềm, tái phân phối lại phần mềm này. Đối với các PMMNM, hầu hết ngƣời dùng đều đƣợc phép tìm hiểu cách thức hoạt động của chúng, sửa đổi, cải thiện và tái phân phối lại các phần mềm này. Việc Copyleft một phần mềm tự do nhằm đảm bảo rằng khi ai đó phân phối lại một phần mềm tự do (dƣới dạng đã chỉnh sửa hoặc chƣa chỉnh sửa) thì phần mềm đƣợc tái phân phối này cũng là một phần mềm tự do. Tinh thần của Copyleft đƣợc thể hiện thông qua giấy phép đi kèm với PMMNM khi phần mềm này đƣợc phát hành.
Tổ chức sáng kiến mã nguồn mở (OSI) phụ trách việc xem xét và phê chuẩn các giấy phép liên quan đến các PMMNM. Hiện nay tổ chức này đã phê chuẩn nhiều giấy phép dành cho các PMMNM nhƣ Mozilla Public License 2.0), Open Font License 1.1), Eclipse Public License (EPL-1.0), Common Development and Distribution License (CDDL-1. Một trong số những giấy phép phổ biến và đƣợc sử dụng rộng rãi mà OSI đã phê duyệt là GNU General Public License (GPL) – một giấy phép Copyleft mạnh đƣợc soạn thảo và đề xuất bởi tổ chức phần mềm tự do (FSF). GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ E–LEARNING: 1.
Các khái niệm về E-Learning (Electronic Learning): Có rất nhiều khái niệm về E-Learning, sau đây là một số khái niệm phổ biến: i. E-Learning là sự hội tụ giữa việc học tập và Internet. ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP – NĂM 2012 | CHUYÊN NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN TRỊ 20 Management Information Systems NGUYỄN CẨM PHÁT – SINH VIÊN KHÓA 24, KHOA CNTT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. E-Learning là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tƣơng tác với nội dung học tập và đƣợc thiết kế dựa trên nền tảng phƣơng pháp dạy học.
Hai khái niệm này đề cập đến Internet như là một thành phần bắt buộc trong cách nhìn nhận về E-Learning. Trong khái niệm thứ 2, ngoài yếu tố công nghệ, cũng đã đề cập đến yếu tố phương pháp giảng dạy. E-Learning là việc sử dụng công nghệ mạng kết nối để thiết kế, cung cấp, lựa chọn, quản trị và mở rộng việc học tập. E-Learning là việc sử dụng sức mạnh của mạng kết nối để cho phép học tập ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu.
Hai khái niệm trên đây có sự mở rộng về hạ tầng công nghệ của E- Learning. Theo đó, ngoài Internet, các hệ thống truyền thông chỉ cần có yếu tố mạng kết nối cũng được coi là cơ sở công nghệ của E-Learning. E-Learning là việc cung cấp nội dung thông qua tất cả các phƣơng tiện điện tử bao gồm Internet; Intranet; Trạm phát vệ tinh; Băng tiếng, hình; Tivi tƣơng tác và CD-ROOM. E-Learning bao gồm tất cả các hình thức điện tử (form of electronics) hỗ trợ việc dạy và việc học.
Các hệ thống thông tin và truyền thông có hoặc không kết nối mạng đƣợc dùng nhƣ một phƣơng tiện để thực hiện quá trình học tập. Khái niệm (5) và (6) là những khái niệm có nội dung bao hàm rộng nhất về hạ tầng kỹ thuật trong E-Learning. Theo đó, các hình thức có yếu tố „điện tử‟ được sử dụng để hỗ trợ việc dạy và học đều được coi là E- Learning. Trên cở sở tham khảo những định nghĩa trên và nhìn nhận khái quát về sự phát triển của E-Learning trong thời điểm hiện tại, có thể hình dung rằng: ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP – NĂM 2012 | CHUYÊN NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN TRỊ 21 Management Information Systems NGUYỄN CẨM PHÁT – SINH VIÊN KHÓA 24, KHOA CNTT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.