Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm E-Learning E-Learning (electronic learning: Học điện tử) là thuật ngữ bao hàm một tập hợp các ứng dụng và quá trình, như học qua web, học qua máy tính, lớp học ảo và sự liên kết số. Trong đó bao gồm việc phân phối nội dung các khoá học tới học viên qua internet, mạng intranet/extranet (LAN/WAN), băng audio và video, vệ tinh quảng bá, truyền hình tương tác, CD-ROM và các loại học liệu điện tử khác. Mô hình E-Learning Hình 1.1 mô tả một cách tổng quát khái niệm E-Learning.
Trong mô hình này, hệ thống đào tạo bao gồm bốn thành phần, toàn bộ hoặc một phần của những thành phần này được chuyển tải tới người học thông qua các phương tiện truyền thông điện tử. + Nội dung: Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng các phương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện. + Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Ví dụ tài liệu được gửi cho học viên bằng e-mail, học viên học trên website, học qua đĩa CD-Rom multimedia … + Quản lý: Quá trình quản lý đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương tiện truyền thông điện tử.
Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng bản tin nhắn SMS, việc theo dõi tiến độ học tập được thực hiện qua mạng Internet … 10 Luan van + Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng được thông qua phương tiện truyền thông điện tử. Ví dụ như việc trao đổi thảo luận thông qua chat, forum trên mạng … Tóm lại E-Learning được hiểu một cách chung nhất là quá trình học thông qua các phương tiện điện tử. Ngày nay với sự hội tụ của máy tính và truyền thông, E-Learning được hiểu một cách trực tiếp hơn là quá trình học thông qua mạng internet và công nghệ web[44]. Theo ADL (Advanced Distributed Learning) - một tổ chức chuyên nghiên cứu và khuyến khích việc phát triển và phân phối học liệu sử dụng các công nghệ mới, đã công bố các tiêu chuẩn cho SCORM mô tả tổng quát chức năng của một hệ thống E-Learning bao gồm: - Hệ thống quản lý học tập (LMS): cho phép người quản trị hệ thống tạo ra cổng dịch vụ đào tạo trực tuyến có nhiệm vụ: quản lý các khóa học trực tuyến; quản lý quá trình tự học, tự bồi dưỡng; quản lý việc phân phối, tìm kiếm nội dung học tập và học liệu (quản lý tài nguyên); quản lý HV, giảng viên/hướng dẫn viên hoặc người quản trị khóa học; quản lý bài kiểm tra, quá trình tự kiểm tra, tự đánh giá của HV; quản lý quá trình trao đổi, thảo luận trên diễn đàn, email, trao đổi tin nhắn điện tử, lịch học của HV.
- Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS): Một LCMS là một môi trường đa người dùng, ở đó các nhà giáo dục, quản trị khóa học có thể tạo ra, lưu trữ, sử dụng lại, chỉnh sửa, quản lý và phân phối nội dung học tập của các khóa học. LCMS quản lý các quá trình tạo ra và phân phối học liệu. 11 Luan van Hình 1. Mô hình chức năng tổng thể của hệ thống E-Learning 1.
Đặc điểm của E-Learning Bài giảng E-Learning dựa trên CNTT và truyền thông: cụ thể là công nghệ mạng kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán,… Bài giảng E-Learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, và cũng đưa ra những nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người. Vì vậy E-Learning có những đặc điểm cụ thể như sau: + Bài giảng E-Learning không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: sự phổ cập rộng rãi của Internet đã dần xóa đi khoảng cách về thời gian và không gian cho E-Learning. Người học có thể chủ động học tập, thảo luận bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu khi họ muốn học tập. + Tính hấp dẫn: với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, những bài giảng tích hợp text, hình ảnh minh họa, âm thanh làm tăng thêm tính hấp dẫn của bài học.
+ Tính linh hoạt: người học có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình. + Tính cập nhật: nội dung bài học thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm đáp ứng tốt nhất và phù hợp nhất với người học. 12 Luan van + Học có sự hợp tác, phối hợp: người học có thể dễ dàng thảo luận, trao đổi thông tin với nhau, với giảng viên thông qua các diễn đàn (forum), hội thoại, trực tuyến (chat), thư từ (e-mail),… + Tâm lí dễ chịu: mọi rào cản về tâm lí giao tiếp của cả người dạy và người học dần dần bị xóa bỏ, mọi người tự tin hơn trong việc trao đổi quan điểm. + Các kĩ năng làm việc hợp tác, tự điều chỉnh để thích ứng của người học sẽ được hoàn thiện không ngừng.
So với lối dạy học truyển thống, GV là người làm hết tất cả công việc từ truyền đạt kiến thức đến quản lý HS. GV vừa là người soạn ra bài giảng vừa là người giảng dạy. HS chỉ là vật thể thụ động lắng nge tiếp thu kiến thức, không có nhiều cơ hội để phát huy được năng lực của bản thân. PPDH truyền thống khá là nhàm chán, hạn chế tính tích cực của HS, sau mỗi bài học GV cũng là người ra bài kiểm tra và HS lại là người làm một cách máy móc, HS có thắc mắc thì GV sẽ là ngườ giải đáp.
Cứ như vậy, làm cho PPDH truyền thống ngày càng tẻ nhạt và HS mất đi hứng thú trong việc học của mình (Hình 1. Giáo viên Truyền đạt kiến Quản lý học sinh thức Soạn bài Giảng Kiểm tra Giải đáp Quản lý Quản lý giảng dạy lớp học việc học Hình 1. Các chức năng của giáo viên Với sự ra đời của E-Learning đã khắc phục được những hạn chế của lối dạy học truyền thống. Với E-Learning, học tập lấy người học làm trung tâm.
Trong môi trường trực tuyến, GV thường là người chủ động lui về phía sau, người học sẽ là người tiếp xúc và làm việc với bài học. Qua bài giảng E-Learning và qua học tập, trao đổi với mọi người thông qua các diễn đàn, trong các cuộc thảo luận nhóm, người học có cơ hội để giải thích, lập luận, chia sẻ, nhận xét, phê bình và chính mình tham gia tự sáng tạo các nội dung sư phạm với một cách thức khó thấy được trong lớp học truyền thống. Qua bài học, HS sẽ thể hiện được các kiến thức mình tiếp thu được bằng nhiều cách, thể hiện tri thức trên máy tính một cách sinh động 13 Luan van hơn. Đồng thời mỗi người học cũng sẽ tự sắp xếp, quản lí việc học tập của mình sao cho phù hợp nhất mà không phải bị lệ thuộc.
Ưu điểm của tổ chức dạy học bằng E-Learning Không bị hạn chế về thời gian, địa điểm: truyền đạt kiến thức theo yêu cầu, thông tin đáp ứng nhanh chóng. Học viên có thể truy cập các khoá học bất kỳ nơi đâu như văn phòng làm việc, tại nhà, tại những điểm Internet công cộng, 24 giờ một ngày, 7 ngày trong tuần. Đào tạo bất cứ lúc nào bất cứ nơi đâu họ muốn. Cơ hội tiếp cận với nền giáo dục nước ngoài: với E-Learning người học có thể học bất kì các khóa học đào tạo nào mà mình muốn, có thể tiếp xúc với nền giáo dục của các quốc gia tiên tiến khác mà không bị trở ngại về khoảng cách địa lí, giúp người học ở đâu cũng được chất lượng đào tạo như nhau.
Chủ động, linh hoạt trong việc sắp xếp lịch học: tiết kiệm thời gian, giúp giảm thời gian đào tạo từ 20 - 40% so với phương pháp giảng dạy truyền thống do rút giảm sự phân tán và thời gian đi lại. Có thể tự sắp xếp lịch học sao cho phù hợp, tự điều chỉnh tốc độ học theo khả năng và có thể nâng cao kiến thức thông qua những thư viện trực tuyến Ứng dụng công nghệ thông tin, nguồn tài liệu phong phú: học tập bài giảng E-Learning vừa học được kiến thức, vừa giúp người học nâng cao khả năng công nghệ thông tin của mình. Ngoài ra, nguồn tài liệu qua E-Learning rất phong phú đa dạng sẽ làm giàu thêm kiến thức cho người học. Chi phí hợp lí: người học trực tuyến sẽ tiết kiệm được cả thời gian và tiền bạc vì trường học của họ sẽ ở ngay trước màn hình máy tính.
Không giống như trong các khóa học trong các cơ sở đào tạo, học sinh của E-Learning sẽ tiết kiệm thời gian đi lại và tiết kiệm tiền cho các khoản chi phí cho sách giáo khoa, sách hướng dẫn, và các học liệu khác. Giúp giảm khoảng 60% chi phí bao gồm chi phí đi lại và chi phí tổ chức địa điểm. Học viên chỉ tốn chi phí trong việc đăng kí khoá học và có thể đăng kí bao nhiêu khoá học mà họ cần. Tương tác và hợp tác: học trực tuyến người học có thể giao lưu và tương tác với nhiều người cùng lúc.
Họ cũng có thể hợp tác với bạn bè trong nhóm học trực tuyến để thảo luận và làm bài tập về nhà. Ngày nay, việc tương tác và hợp tác trên Internet là phổ biến qua forum, blog, Facebook… và có thể tận dụng Internet để “vừa làm vừa học vừa chơi”. Quy trình xây dựng bài giảng E-Learning Bước 1: Xác định mục tiêu và kiến thức cơ bản của bài học Việc xác định mục tiêu và xác định nội dung của bài học là hai công việc cần thiết phải có khi soạn bất kỳ loại bài giảng nào, dù là bài giảng truyền thống hay bài giảng E-Learning. Tuy nhiên, khác biệt với dạy học truyền thống, dạy học E- Learning người học nhiều khi không cần phải tiếp xúc trực tiếp với người dạy.
Nghĩa là thực tế khi đó chỉ diễn ra quá trình học, còn quá trình dạy là một quá trình ảo. Vì vậy, việc xác định đúng mục tiêu và nội dung của bài học đối với hình thức E-Learning cần phải được đề cao hơn nữa. Điều đó sẽ giúp người dạy chắt lọc được những kiến thức quan trọng, bước đầu tạo được định hướng xây dựng cấu trúc, sắp xếp thứ tự các nội dung sẽ trình bày trong bài giảng. Cụ thể: - Xác định mục tiêu và nội dung của bài giảng: GV cần xác định đủ 4 mục tiêu (kiến thức, kĩ năng, thái độ, năng lực) mà HS cần đạt được sau bài giảng.