Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Trình bày tính cấp thiết của đề tài, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu về cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu về kết quả học tập trong giáo dục trực tuyến ở trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh. Chương này đưa ra một số khái niệm, cơ sở lý thuyết trong việc nghiên cứu về các yếu tố quyết định kết quả học tập sinh viên trong giáo dục trực tuyến ở trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.
Hồ Chí Minh. Đồng thời, tác giả cũng xác định các nhân tố quyết định kết quả học tập sinh viên trong giáo dục trực tuyến Việt Nam nói chung. 3 Luan van Trên cơ sở các nhân tố đó, tác giả đưa ra những bằng chứng thực nghiệm của các nghiên cứu trước về tầm quan trọng của giáo dục trực tuyến ở Việt Nam trong thế hệ 4. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Từ việc xác định các yếu tố tố quyết định kết quả học tập sinh viên trong giáo dục trực tuyến ở trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.
Hồ Chí Minh trong chương 2, đưa ra quy trình thực hiện nghiên cứu định lượng trong bài nghiên cứu. Cụ thể, nhóm sẽ xác định các giả thuyết nghiên cứu; cách thức thu thập dữ liệu (bao gồm nguồn dữ liệu sử dụng); xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng (với các biến số trong mô hình); cách xác định, tính toán/ đo lường các biến số nghiên cứu định lượng; tổng quan các phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đối với các tố quyết định kết quả học tập của sinh viên trong giáo dục trực tuyến ở trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh.
Từ đó, đưa ra các kết luận về việc chấp nhận/bác bỏ những giả thuyết đã đặt ra trước đó, đồng thời cũng đưa ra các nhận định về tác động của việc giáo dục trực tuyến ở Việt Nam Chương 5: Kết luận, gợi ý chính sách, giải pháp của đề tài nghiên cứu và các hướng nghiên cứu tiếp theo Chương này sẽ tóm tắt về việc thực hiện nghiên cứu trong bài nghiên cứu, kết luận tổng quát về các kết quả nghiên cứu đã đạt được. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị, đề xuất nhằm thúc đẩy tầm quan trọng của việc giáo dục trực tuyến cho sinh viên Việt Nam nói chung. Ngoài ra, chương này cũng sẽ chỉ ra những giới hạn trong nghiên cứu và đưa ra các hướng nghiên cứu mở rộng trong các nghiên cứu tiếp theo. 4 Luan van CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Cơ sở lý thuyết Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về học trực tuyến. Hiểu theo nghĩa rộng, học trực tuyến là thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập và đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin (nguồn: bản tin ĐHQG Hà Nội). Theo quan điểm hiện đại, học trực tuyến là sự phân phát nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng máy tính, mạng vệ tinh, mạng internet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay tivi; người dạy và học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo, video Người học Người quản trị hệ thống Người học Người dạy Hệ thống quản lý học tập Người học Công cụ xây dựng nội dung học tập Người học Nguồn: VVOB, 2010 Hình 2.1 Hệ thống quản lý học tập Trên thực tế, học trực tuyến đã và đang trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức; thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam.
Rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực học trực tuyến đã ra đời. Nhiều hình thức đào tạo bằng học trực tuyến được hình thành như: Đào tạo dựa trên công nghệ, đào tạo dựa trên máy tính, đào tạo dựa trên web; đào tạo trực tuyến, đào tạo từ xa. 5 Luan van Một hệ thống học trực tuyến bao gồm 3 phần chính: Hạ tầng truyền thông và mạng (bao gồm các thiết bị đầu cuối người dùng hay học viên, thiết bị tại các cơ sở cung cấp dịch vụ, mạng truyền thông); hạ tầng phần mềm (gồm các phần mềm LMS, LCMS, Authoring Tools.); nội dung đào tạo hạ tầng thông tin (gồm nội dung các khoá học, các chương trình đào tạo, các coursewar. Theo khảo sát của tác giả cho thấy, hiện nay có 2 hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học qua hệ thống đào tạo trực tuyến phổ biến: Giao tiếp đồng bộ và giao tiếp không đồng bộ.
Giao tiếp đồng bộ là giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập tại cùng một thời điểm và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video… Giao tiếp không đồng bộ là người truy cập không nhất thiết phải truy cập tại cùng một thời điểm, ví dụ như: tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn. Đặc trưng của giảng dạy theo mô hình học trực tuyến là học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học. Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Kayode C.
Ekwunife-Orakwue, Tian-Lih Teng (2014) Nghiên cứu này đó lường mức độ tương tác của sinh viên trong môi trường học tập trực tuyến và kết hợp tác động đến kết quả học tập của sinh viên. Được đo lường bằng mức độ hài lòng và điểm số của sinh viên. Được đo lường như tương tác của sinh viên với các sinh viên khác (tương tác của sinh viên), các công nghệ được sử dụng (tương tác về công nghệ sinh viên), người hướng dẫn (tương tác với giáo viên) và nội dung khoá học. Dữ liệu thu thập được từ 342 học sinh trực tuyến từ năm 2010 đến năm 2013.
Các kết quả chỉ ra rằng tương tác về nội dung học có ảnh hưởng lướn đến kết quả học tập của học sinh so với các hình thức khác. Nghiên cứu của J.Arbaugh (ngày 1 tháng 12 năm 2000) Trong khi số lượng các khóa học đại học qua Internet đang tăng lên nhanh chóng, những kiến thức làm cho các khóa học, kinh nghiệm học tập hiệu quả cho sinh viên vẫn còn hạn chế. Do đó, tác giả đã thực hiện một nghiên cứu kiểm tra các tác động của các đặc điểm công nghệ, sư phạm và sinh viên đối với sinh viên học trong các khóa học MBA dựa 6 Luan van trên Internet. Trong những đặc điểm này, tác giả thấy rằng chỉ những người phản ánh những nỗ lực của người hướng dẫn để tạo ra một môi trường lớp học tương tác có liên quan đáng kể đến việc học tập của sinh viên.
Các đặc điểm khác như dễ sử dụng của gói phần mềm khóa học, tính linh hoạt của môi trường lớp học trực tuyến và lượng thời gian sinh viên đăng nhập vào khóa học Trang web không liên quan đáng kể đến việc học của sinh viên. Những phát hiện này cho thấy rằng trong một số mức độ tinh vi công nghệ có thể quan trọng, thì chuyên môn giảng dạy có thể là tiêu chí chính để giảng dạy thành công trong môi trường lớp học trực tuyến. Do đó, giáo viên hướng dẫn có thể cần dành nhiều thời gian hơn để phát triển và trau dồi các kỹ năng giảng dạy như làm việc đồng thời với một số nhóm sinh viên nhỏ hơn, phát triển các câu hỏi thảo luận thú vị và thúc đẩy sự thân mật. Để hỗ trợ sự phát triển của khoa này, các trường có thể sẽ cần đầu tư cơ sở hạ tầng đáng kể để đảm bảo rằng các khóa học trực tuyến của họ có lợi cho giảng dạy và công nghệ cho việc học của sinh viên.
Nghiên cứu của William A. Wagner (2004) Sinh viên ưa thích phong cách học tập đa dạng và người hướng dẫn phải thiết kế và cung cấp các khóa học để đáp ứng nhu cầu của những sinh viên đó. Nghiên cứu này nghiên cứu bốn phong cách học tập sinh lý của thị giác, âm thanh, đọc ‐ viết và động học khi chúng áp dụng cho giáo dục trực tuyến. Các phát hiện cho thấy sinh viên trực tuyến có nhiều khả năng học tập hình ảnh và đọc ‐ viết mạnh mẽ hơn.
Hơn nữa, người học đọc viết và sinh viên mạnh ở cả bốn kiểu học có khả năng đánh giá hiệu quả khóa học thấp hơn so với các sinh viên khác trong khi những người học và học sinh không biết đọc bất kỳ phong cách học nào có khả năng đánh giá hiệu quả khóa học cao hơn những học sinh khác. Không thể phủ nhận giáo dục trực tuyến đang phát triển ngày càng mạnh mẽ, hiện nay có 8 quốc gia đang dẫn đầu thế giới về giáo dục trực tuyến là: Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Anh, Hàn Quốc, Malaysia, Australia và Nam Phi. Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu An, Nguyễn Thị Ngọc Thứ, Đinh Thị Kiều Oanh, Nguyễn Văn Thành (2016) 7 Luan van Các phương pháp phân tích chính của nghiên cứu này là Phân tích Yếu tố Khám phá (EFA). Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 561 sinh viên.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra hai yếu tố ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập của sinh viên là yếu tố bản thân sinh viên và yếu tố năng lực giảng viên. Trong đó, các yếu tố thuộc về sinh viên bao gồm kiến thức tiếp thu được sau quá trình học tập, động cơ học tập, động lực bản thân của sinh viên năm nhất, năm hai đại học ảnh hưởng đến kết quả học tập cao hơn yếu tố năng lực. cho các giảng viên Nghiên cứu của Lê Hiếu Học, Đào Trung Kiên (năm 2016) Hệ thống học trực tuyến đóng một vai trò quan trọng trong việc chia sẻ chuyển giao tri thức, đặc biệt là trong các tổ chức giáo dục, chẳng hạn như các trường đại học. Nếu một trường đại học muốn thúc đẩy sinh viên sử dụng hệ thống học trực tuyến thành công, các nhà quản lý của trường đó cần phải tìm hiểu các yếu tố thiết yếu có tác động như thế nào đến việc chấp nhận sử dụng hệ thống học trực tuyến của sinh viên.