lời mở đầu, phần nội dung gồm 3 chƣơng và kết luận. Cụ thể phần nội dung gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc tuyển chọn cạnh tranh vào các chức danh lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Chƣơng 2: Thực trạng tuyển chọn cạnh tranh vào các chức danh lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyển chọn cạnh tranh vào các chức danh lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
5 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TUYỂN CHỌN CẠNH TRANH VÀO CHỨC DANH LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Chức danh lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Đơn vị sự nghiệp công lập Thuật ngữ đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc sử dụng nhiều trong các văn bản quản lý nhà nƣớc nhƣng phải đến năm 2010, khi Quốc hội thông qua Luật Viên chức thì khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập mới chính thức đƣợc luật hóa. Theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010, đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc hiểu là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc.
Với cách hiểu trên, ĐVSN công lập có ba loại gắn với thẩm quyền quyết định thành lập gồm: ĐVSN do tổ chức Đảng quyết định thành lập, ĐVSN do tổ chức chính trị - xã hội quyết định thành lập và ĐVSN do các cơ quan nhà nƣớc quyết định thành lập [7, Điều 11]. Trong phạm vi luận văn này, chỉ xem xét các ĐVSN do các cơ quan nhà nƣớc quyết định thành lập gọi tắt là ĐVSN công lập. ĐVSN công lập là một bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nƣớc nhƣng không mang quyền lực nhà nƣớc và không có chức năng quản lý nhà nƣớc. Các đơn vị sự nghiệp công lập rất đa dạng, hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhƣ giáo dục, đào tạo, văn hóa, thông tin, thể thao, nghiên cứu khoa học, y tế… Theo Điều 4, Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập, việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập dựa vào nhiều căn cứ khác nhau nhƣ căn 6 Luan van cứ vào ngành, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; vào chức năng, nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nƣớc hoặc thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao và cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công lập; vào tính chất, đặc điểm về chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị sự nghiệp công lập; cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.
Nhƣ vậy, ĐVSN công lập đƣợc hiểu là do cơ quan nhà nƣớc quyết định thành lập và quản lý; tham gia thực hiện các dịch vụ công, đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của xã hội, không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội; đƣợc thành lập đúng thẩm quyền, đúng trình tự pháp luật, có con dấu, có tƣ cách pháp nhân và có tài khoản tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nƣớc. Chức danh lãnh đạo, quản lý a) Chức danh: Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông do Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2006: Chức có nghĩa là danh vị thể hiện quyền hạn và trách nhiệm của một ngƣời trong hệ thống tổ chức của nhà nƣớc hay đoàn thể; Danh nghĩa là tên; Do vậy, chức danh đƣợc hiểu là tên gọi thể hiện cấp bậc, quyền hạn, trách nhiệm. Ví dụ: chức danh Giám đốc, chức danh Trƣởng phòng, chức danh Phó trƣởng phòng, chức danh chuyên viên… Thuật ngữ chức danh gắn với nghề nghiệp thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ trong từng lĩnh vực nghề nghiệp [6, Điều 6]. Mỗi một chức danh lại quy định tiêu chuẩn về trình độ, chuyên môn cụ thể mà ngƣời ở vị trí chức danh đó phải đáp ứng để hoàn thành nhiệm vụ.
b) Lãnh đạo, quản lý Trên thực tế, các nhà nghiên cứu chƣa thống nhất đƣợc về một định nghĩa rõ ràng, rành mạch cho hai khái niệm lãnh đạo và quản lý. Ranh giới để nhận biết ai là lãnh đạo, ai là quản lý của một tổ chức nói chung là khó rạch ròi. Trong nhiều trƣờng hợp, chức năng, nhiệm vụ của ngƣời lãnh đạo, quản 7 Luan van lý trùng lặp nhau, thâm nhập vào nhau. Sự phân loại hai khái niệm này chỉ mang tính tƣơng đối.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Lãnh đạo là dẫn dắt tổ chức phong trào theo đƣờng lối cụ thể, là đề ra chủ trƣơng và tổ chức động viên thực hiện; còn quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu đã đề ra [23, tr 979]. Với quan niệm nhƣ vậy có thể hiểu lãnh đạo quyết định về đƣờng lối, sách lƣợc gắn với những vấn đề mang tính tổng quát, còn quản lý là tổ chức thực hiện, xử lý, giải quyết những vấn đề thực tế đặt ra. Lãnh đạo là quá trình tạo ảnh hƣởng và tác động tới con ngƣời và tổ chức; là đƣa ra những chủ trƣơng, phƣơng hƣớng phát triển tổ chức; nhằm thực hiện mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội đặt ra trong từng giai đoạn , phù hợp với yêu cầu và điều kiện trong từng giai đoạn phát triển của xã hội. Quản lý là một quá trình hiện thực hóa những đƣờng lối, chủ trƣơng chiến lƣợc thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý và phù hợp với yêu cầu điều kiện của cơ quan, địa phƣơng vụ thể.
Về phƣơng thức tác động, lãnh đạo sử dụng chủ yếu phƣơng pháp thuyết phục, động viên, gây ảnh hƣởng còn quản lý dựa vào pháp luật và các thể chế, quy chế. Về hiệu lực, lãnh đạo giúp cho các thành viên trong tổ chức quần chúng nhân dân tự tổ chức và làm cho tác động, ảnh hƣởng của lãnh đạo lan tỏa trong tổ chức, ra toàn xã hội còn quản lý thƣờng thông qua hoạt động của chính quyền hoặc những tổ chức, cá nhân đƣợc nhà nƣớctrao quyền tác động trực tiếp tới các đối tƣợng chịu sự quản lý, hiệu lực là trực tiếp. Về nội dung chức năng, lãnh đạo gồm: xác định phƣơng hƣớng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chủ trƣơng chiến lƣợc, điều hòa phối hợp các mối quan hệ và động viên thuyết phục thực hiện. Chức năng quản lý gồm: xây dựng kế 8 Luan van hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm soát tiến trình hoạt động [16, tr 53, 54].
Từ trên cho thấy, ngƣời lãnh đạo và ngƣời quản lý có những hoạt động tƣơng đồng, bổ sung cho nhau, đan xen nhau mà không cản trở nhau, đều phục vụ chung cho mục đích của tổ chức. Công việc của một quốc gia hay một tổ chức đều cần cả lãnh đạo và quản lý. Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hƣớng theo khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, làm thức tỉnh hành vi của đối tƣợng, định hƣớng hoạt động của đối tƣợng và xã hội, hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết kế có tính pháp lệnh đƣợc quy định từ trƣớc.
Chức danh lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập Theo phân tích ở trên, ngƣời lãnh đạo, quản lý là ngƣời định hƣớng, đề ra mục tiêu, chiến lƣợc, nhiệm vụ, kế hoạch cho đơn vị mình và chỉ đạo, điều hành đơn vị thực hiện các mục tiêu đã đề ra, là ngƣời chủ chốt trong đơn vị, có vai trò đại diện, đứng đầu, quyết định định hƣớng phát triển của đơn vị. Các chức danh lãnh đạo, quản lý trong ĐVSN công lập có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, người lãnh đạo, quản lý đơn vị luôn gắn với quyền hạn và trách nhiệm. Quyền hạn ở đây hay nói rộng ra là thẩm quyền, là quyền theo cƣơng vị, chức vụ cho phép. Quyền hạn đƣợc trao cho ngƣời lãnh đạo, quản lý là công cụ để họ có thể làm tròn vai trò đƣợc nắm giữ.
Hiện nay, trong ĐVSN công lập của tỉnh dù là ĐVSN đã đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn hay chƣa đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn thì thủ trƣởng đơn vị cũng đều có toàn bộ hoặc một phần thẩm quyền về các lĩnh vực nhƣ: quyền ra quyết định, quyền ký văn bản, quyền tổ chức bộ máy của đơn vị, quyền về tài chính hay các quyền về nhân sự… Thẩm quyền hay quyền hạn đƣợc trao là để thực hiện trách nhiệm. Trách nhiệm đối với vị trí lãnh đạo, quản lý là những yêu cầu 9 Luan van cao đòi hỏi ngƣời đó phải làm và sẽ phải chịu trách nhiệm về những việc mình làm. Nếu đƣợc trao quyền một phần thì trách nhiệm phải chịu một phần, nếu đƣợc trao toàn bộ thẩm quyền thì phải chịu trách nhiệm toàn bộ. Điều đó cho thấy, những ngƣời lãnh đạo, quản lý là những ngƣời đứng mũi, chịu sào trong tổ chức.
Việc ngƣời lãnh đạo, quản lý sử dụng quyền của mình đến đâu và nhƣ thế nào sẽ có tác động to lớn đến đơn vị, nếu sử dụng không đúng, không biết phát huy có thể làm tê liệt cả hệ thống… Thứ hai, người lãnh đạo, quản lý đơn vị có quyền quản lý nhân viên cấp dưới. Trên cơ sở hiểu rõ năng lực, sở trƣờng của từng ngƣời, ngƣời lãnh đạo, quản lý phân công nhiệm vụ cho cấp dƣới, bố trí đúng ngƣời, đúng việc, làm cho mọi cá nhân phát huy tối đa năng lực, sở trƣờng của họ để hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức, tránh tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngƣợc, hoặc bố trí nhân viên theo kiểu thợ mộc thì bảo đi xây nhà, thợ xây thì bảo đi đóng tủ… Mặt khác, ngƣời lãnh đạo, quản lý phải có năng lực lãnh đạo, quản lý thì mới có khả năng tập hợp quy tụ nhân viên cấp dƣới; tổ chức triển khai thực hiện công việc; biết lắng nghe ý kiến của mọi ngƣời đối với công việc. Hơn nữa, ngƣời lãnh đạo, quản lý phải có các phẩm chất chính trị, phẩm chất cá nhân. Dù ngƣời đó có trình độ, có năng lực, tài năng đến đâu nhƣng cũng cần phải có phẩm chất đạo đức, đó là gốc của ngƣời lãnh đạo, quản lý, vì đó sẽ là tấm gƣơng cho mọi ngƣời trong đơn vị noi theo.