Chương 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ LÀM CĂN CỨ XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG CHI CỤC TRƯỞNG CHI CỤC VĂN THƯ- LƯU TRỮ THUỘC SỞ NỘI VỤ. Các khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Khái niệm tiêu chí đánh giá Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học - Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 1992: “Tiêu chí là tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, đánh giá 1 sự vật, 1 đối tượng” Khái niệm về đánh giá tồn tại cách đây rất lâu, ở Trung Quốc đã có hệ thống đánh giá chức năng 2000 năm trước Công nguyên. Đánh giá có thể đồng nghĩa với các trắc nghiệm, mô tả các tài liệu hoặc thậm chí là quá trình quản lý, nhiều định nghĩa về đánh giá đã được đưa ra, song định nghĩa toàn diện nhất chỉ ra rằng đánh giá là “những điều tra hệ thống về giá trị hoặc giới hạn của một đối tượng”.
Đây là định nghĩa của Ủy ban hợp tác về các tiêu chuẩn đánh giá giáo dục (1994). Định nghĩa này chú trọng vào mục đích của sự đánh giá. Theo đó, đánh giá cần được tiến hành theo các lý do liên quan đến hoạt động và thông tin thu được phải hỗ trợ quyết định hoạt động hoặc quá trình hoạt động. Việc đánh giá cung cấp thông tin nhằm nâng cao chất lượng của dự án hay của một chương trình nào đó, những thông tin để xác định các mục tiêu có đạt được không và các khía cạnh khác nhau của một dự án đang làm cần thiết cho quá trình phát triển như thế nào.
Đánh giá thường xuyên cung cấp cái nhìn mới hoặc những thông tin mới mà trước đây chưa được dự tính. Qua nhiều năm, đánh giá được xem như là một quá trình đối lập. Mục đích sử dụng chính của nó là cung cấp sự “tán thành” hay “phản đối” về một chương trình hoặc một dự án. Với nhiệm vụ này nó thường được chương trình hoặc dự án xem như giám đốc hoặc điều phối viên là một vị trí ở bên ngoài luôn đe dọa cản trở và có vẻ không hữu ích với thành viên của dự án.
Trong khi điều đó có thể đúng ở một vài trường hợp các đánh giá không cần và hầu hết không được tiến hành theo phương thức đối lập đó. 19 z Quan điểm hiện nay về đánh giá nhấn mạnh mối quan hệ hợp tác giữa đánh giá và thực hiện chương trình. Đánh giá không tách riêng khỏi hoặc thêm vào một dự án mà là một phần của dự án từ khi nó bắt đầu lập kế hoạch, đánh giá và thực hiện là các phần của toàn bộ quá trình và chúng thực sự có hiệu quả nhất khi chúng được kết hợp với nhau. Đánh giá cung cấp thông tin cho những người được hưởng lợi khác nhau.
Nó cho phép dự án được thực hiện tốt hơn và chứng tỏ được giá trị của chúng, nó cũng cung cấp cho các nhà quản lý các dữ liệu họ cần để báo cáo kịp thời để thông tin tới những người ra quyết định cấp cao về kết quả của sự đầu tư của họ. Vậy tiêu chí đánh giá được hiểu là các yêu cầu dùng để kiểm định hay đánh giá một đối tượng bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng tuân thủ các quy tắc, quy định. Khái niệm năng lực Theo các nhà nghiên cứu Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Còn nhà tâm lý học người Pháp Denyse Tremblay thì cho rằng năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống.
Nghiên cứu này xác định năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một công việc cụ thể, hay nói cách khác năng lực là tổng hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có hiệu quả. Muốn đánh giá năng lực cá nhân phải xem xét chúng trong hoạt động, năng lực của người lao động đáp ứng với yêu cầu công việc là sự tổng hợp toàn bộ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình học tập tại các cơ sở đào tạo và trong thời gian làm thực tế được biểu hiện qua mức độ hoàn thành công việc của họ. Năng lực được thể hiện thông qua các hoạt động cụ thể có kết quả, năng lực dưới dạng tổng thể giúp cá nhân nắm bắt và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Cấu trúc các thành tố của năng lực linh hoạt, dễ chuyển hóa khi môi trường và hoạt động thay đổi.
Năng lực được đánh giá thông qua việc theo dõi toàn bộ tiến trình 20 z hoạt động của cá nhân ở nhiều thời điểm khác nhau. Đây chính là cách các nhà quản lý dùng để đánh giá năng lực. Đây chính là cách các nhà quản lý dùng để đánh giá nhân viên của mình nói chung và các nhà quản lý công tác lưu trữ sử dụng để đánh giá năng lực của Chi cục trưởng Chi cục VTLT trực thuộc Sở Nội Vụ nói riêng. Khái niệm về tiêu chí đánh giá năng lực Tiêu chí đánh giá năng lực được hiểu là các yêu cầu dùng để kiểm định hay đánh giá khả năng hành động, giá trị cá nhân thông qua các hoạt động có hiệu quả.
Khái niệm Chi cục trưởng Chi Cục Văn thư – Lưu trữ Chi cục trưởng Chi cục VTLT là Lãnh đạo Chi cục chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở Nội vụ và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Chi cục. Phó Chi cục trưởng chịu trách nhiệm trước Chi cục trưởng và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công. Khái niệm tiêu chí đánh giá năng lực của Chi cục trưởng Chi cục VTLT thuộc Sở Nội vụ Trong công tác cán bộ, đánh giá cán bộ là khâu rất hệ trọng, nhạy cảm, tế nhị, phức tạp đòi hỏi tính khoa học, nhân văn, sự công tâm, chính xác, vì lợi ích chung của đất nước. Bản chất của công tác đánh giá cán bộ là công tác đánh giá về con người, liên quan đến sinh mệnh chính trị của con người.
Vì vậy, đánh giá cán bộ phải được tiến hành trên cơ sở khoa học về con người. Theo chúng tôi, để đánh giá, bố trí đúng cán bộ phải dựa vào ba tiêu chuẩn quan trọng: trình độ, năng lực và tư cách cán bộ. Đây là ba tiêu chuẩn “cần và đủ” để đánh giá cán bộ. Về trình độ: Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đòi hỏi đầu tiên của người cán bộ là phải có trình độ.
Muốn có trình độ tất yếu người cán bộ phải được đào tạo, bồi dưỡng qua trường lớp và tự đào tạo, rèn luyện qua thực tế công tác, cả về chuyên môn và trình độ chính trị. Người cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi sẽ thuận lợi trong việc chỉ đạo, điều hành. Nếu ngược lại, người đó sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ. Bên cạnh trình độ chuyên môn, đòi hỏi phải có trình độ lý luận chính trị, nắm chắc các quy luật vận động của cuộc sống, biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cơ quan, đơn vị.
Một cán bộ có chuyên môn giỏi, có trình độ lý 21 z luận vững vàng, khẩu khí tốt, sẽ có lợi thế lớn trong công tác lãnh đạo hay quản lý, nhất là khi trình độ dân trí ngày càng cao. Về năng lực: Trình độ là thứ được đào tạo, được tiếp thu, nhưng năng lực như là cái vốn có, bẩm sinh, cái ‘trời cho” của mỗi người. Năng lực là vốn quý, được kế thừa từ gia đình, di truyền cộng với khả năng tư duy, nắm tình hình, biết vận dụng sáng tạo vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để phát huy thắng lợi. Người có năng lực nếu được đào tạo tốt sẽ phát huy được khả năng.
Bởi năng lực như là cái vốn có, còn trình độ là cái được bổ sung. Trong thực tế không ít cán bộ tuy không được học hành đầy đủ nhưng trong quá trình công tác họ tự rút ra nhiều kinh nghiệm hay, chịu khó tổng kết nên có được những phương pháp, cách làm hiệu quả. Về tư cách cán bộ: Người cán bộ có trình độ, có năng lực nhưng nếu không có tư cách, phẩm chất đạo đức tốt cũng không được dân tin. Khi không được tin sẽ không được ủng hộ, dẫn đến khó hoàn thành nhiệm vụ.
Một người có tư cách, nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt sẽ được mọi người nể phục, ủng hộ. Thực tế hiện nay không ít cán bộ không đủ tư cách, trong công tác kém cỏi, trong quan hệ với anh em, đồng chí không hoà đồng, đạo đức, phẩm chất kém, nói một đường làm một nẻo; thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, thậm chí vi phạm kỷ luật, vi phạm nhân cách… nhưng vẫn được bố trí làm cán bộ lãnh đạo, quản lý, gây mất lòng tin trong quần chúng nhân dân. Như vậy, tiêu chí đánh giá năng lực của Chi cục trưởng Chi cục VTLT thuộc Sở Nội vụ là các tiêu chí thuộc về Năng lực lãnh đạo, quản lý, tiêu chí thuộc về phẩm chất đạo đức, tiêu chí thuộc về năng lực chuyên môn. Khi xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực của Chi cục trưởng Chi cục VTLT thuộc Sở Nội vụ chúng ta cần phải đặc biệt chú ý đến ba nhóm tiêu chí này.
Có như vậy chúng ta mới xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá năng lực Chi cục trưởng Chi cục VTLT thuộc Sở Nội vụ một cách đầy đủ và hoàn thiện nhất. Theo lý thuyết về vị trí việc làm thì một vị trí công tác (ở đây là Chi cục trưởng) phải ứng với việc làm cụ thể (ở đây là nhiệm vụ, quyền hạn). Để làm sáng tỏ các tiêu chí đánh giá Chi cục trưởng, chúng tôi trình bày, phân tích nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục trưởng trong việc thực hiện trách nhiệm của mình. Chi cục trưởng Chi cục VTLT chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở Nội vụ và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Chi cục.
Phó Chi cục trưởng chịu trách 22 z nhiệm trước Chi cục trưởng và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công.