Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học; Chương 2. Cơ sở lý luận về tương tác tâm lý trên lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học; Chương 3. Tổ chức thực hiện và phương pháp nghiên cứu; Chương 4.
Thực trạng tương tác tâm lý trên lớp giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học trên địa bàn TP.HCM), kết luận – kiến nghị, tài liệu tham khảo, danh mục các công trình công bố và phụ lục. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TƢƠNG TÁC TÂM LÝ TRÊN LỚP HỌC GIỮA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Các nghiên cứu trên thế giới về tƣơng tác tâm lý giữa ngƣời dạy với ngƣời học Do vai trò to lớn của tương tác đối với sự phát triển cá nhân và xã hội, nên vấn đề này đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm, nghiên cứu từ rất lâu. Có thể khái quát thành các hướng cơ bản sau: 1.
Nghiên cứu tương tác trong một số lí thuyết tâm lí học - Tương tác trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học hành vi Thuyết hành vi nghiên cứu về tương tác của cá nhân với môi trường dưới dạng sự tác động qua lại giữa các kích thích của tác nhân bên ngoài với phản ứng của cá thể theo cơ chế S - R. Các nhà tâm lý học theo trường phái này hầu như không quan tâm đến tâm lý, ý thức của chủ thể mà chỉ quan tâm đến hành vi tồn tại của con người. Hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài. Hành vi được quy gọn vào cặp đôi duy nhất: Kích thích (S) – Phản ứng (R) để giải thích bản chất, cơ chế của sự phát triển tâm lý của con người và động vật.
Sự phát triển của tâm lý học hành vi đưa đến các nhánh hành vi khác nhau trong lý thuyết hành vi.Watson, hành vi tương tác là sự xuất hiện phản ứng (R) khi có tác động của một kích thích (S) nhằm đáp lại kích thích đó. Nói cách khác, mọi hành vi của con người đều được giải thích dựa trên cơ chế S - R: trong đó S là kích thích; R là phản ứng và theo quá trình nhận kích thích và phản ứng của cá thể với cá thể, cá thể với nhóm, cá thể với môi trường cũng chính là quá trình tương tác giữa kích thích và phản ứng của cá thể theo sơ đồ chung: S R. Theo mô hình này, bất kì hành vi nào cũng có thể đưa về cấu thành đơn giản như vậy.Tolman đã nghiên cứu vai trò các yếu tố trung gian của cá thể trong việc tiếp nhận và xử lý các kích thích của môi trường. Trong nghiên cứu của ông, hành vi không phải là tổng số các phản ứng riêng lẻ mà là một phản ứng tổng thể không thể chia cắt.
Sự hình thành các hành vi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trung gian của cá thể như nhu cầu, mục đích, trạng thái cơ thể…. Trong đó mục đích có tính quyết định. Bất kì hành vi nào cũng hướng vào một mục đích nào đó, vì một lợi ích nào đó của cá nhân trên cơ sở một số phương tiện. Ông phân các yếu tố trung gian thành 5 nhóm: các kích thích của môi trường, các động cơ tâm lý, di truyền, sự dạy học từ trước, tuổi tác.
Hành vi là hàm số của tất cả các biến số như vậy, vì vậy sơ đồ tương tác 8 hành vi theo mô hình của ông là S-O-R, trong đó O (Organisme) là các biến trung gian, tức là tất cả những gì gắn với cơ thể, tham gia vào quá trình tương tác. Trong quan điểm tương tác hành vi dựa trên sự quan sát xã hội của mình, A.Bandura hướng vào việc hình thành hành vi thông qua việc quan sát hành vi của người khác. Theo ông, hành vi của một cá nhân không phải bao giờ cũng được hình thành bằng con đường trực tiếp có kích thích - phản ứng bên ngoài (J.Watson) mà có thể được hình thành từ quan sát, bắt chước hành vi của người khác. Ông cho rằng, cá nhân hình thành hành vi không phải vì bản thân hành vi đó mà là do hậu quả của nó mang lại đối với nhu cầu của cá nhân.
Theo đó, ông đưa ra hai hình thức hình thành hành vi thông qua sự tương tác: a) Qua quan sát để tạo ra sự thay thế. b) Qua bắt chước hành vi của người làm mẫu. Có thể nói, những phát hiện của A. Bandura về cơ chế học tập quan sát xã hội chính là cơ sở của tương tác tâm lý giữa các chủ thể, giữa người dạy và người học trong dạy học.
[157] - Tương tác trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học nhận thức J. Piaget (1896 -1980) và các cộng sự của ông là những người sáng lập ra thuyết tâm lý học nhận thức theo nguyên lý cân bằng hóa. Cân bằng tâm lý chính là sự bù trừ do các hoạt động của chủ thể trả lời các kích thích từ ngoài vào. Khi cơ thể có một nhu cầu nào đó, con người rơi vào trạng thái mất cân bằng.
Khi đó, chủ thể phải nỗ lực để tạo ra sự cân bằng mới. Trong đời sống tâm lý cũng vậy, muốn làm cho trẻ nhận thức, tư duy, suy nghĩ tích cực thì phải đặt trẻ vào trạng thái mất cân bằng hay còn gọi là tình huống có vấn đề để trẻ giải quyết, tạo ra sự cân bằng về nhận thức. Theo lý thuyết này, tương tác là quá trình điều chỉnh các chức năng tâm lý của cá nhân theo cơ chế đồng hóa và điều ứng. Đồng hóa là quá trình chủ thể tiếp nhận kích thích từ khách thể vào cấu trúc hoạt động đã có (xử lý các tác động bên ngoài nhằm đạt một mục tiêu nào đó).
Điều ứng là quá trình chủ thể đem cấu trúc hoạt động đã được tạo ra trước đó thích ứng theo kích thích của khách thể. Trong các nghiên cứu của mình, J.Piaget cũng nhấn mạnh đến sự tương tác và chuyển giao xã hội. Đặc biệt, trong nghiên cứu quá trình phát triển trí tuệ trẻ, học thuyết nhấn mạnh cơ chế phát triển các cấu trúc nhận thức và trí tuệ của trẻ qua các giai đoạn lứa tuổi là kết quả của sự tương tác giữa trẻ với thế giới đồ vật và xã hội. Sự tương tác xã hội có tính hai mặt; một mặt, sự xã hội hóa là quá trình sơ đồ hóa, trong đó cá nhân nhận được những khuôn mẫu trí tuệ xã hội tương ứng với sự tương tác của trẻ với xã hội trong từng lứa tuổi; mặt khác, tác động của xã hội chỉ có tác dụng khi có sự đồng hóa 9 tích cực của trẻ.Piaget cho rằng, muốn chuyển từ một giai đoạn sang giai đoạn kế tiếp, trẻ phải vươn tới mức trưởng thành nhất định và trải đủ loại kinh nghiệm thích hợp.
Không có được các kinh nghiệm ấy, chưa thể xem trẻ có đủ khả năng vươn được đến đỉnh điểm phát triển trí tuệ của chúng [42], [59], [115], [99], [107]. - Tương tác trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học nhân văn Trong quá trình nghiên cứu tâm lý con người, nhà tâm lý học nhân văn C.Rogers (1902 – 1987) nhấn mạnh đến quá trình thiết lập, tạo lập mối tương giao. Ông quan niệm, tương tác giữa các cá nhân sẽ thuận lợi, hiệu quả khi tạo được mối tương giao. Mối tương giao với ông, nghĩa là khi ta tạo được điều kiện thuận lợi để người tương tác có thể truyền thông cho ta những tình cảm, thế giới nội tâm của họ; là khi ta biết lắng nghe họ nói để hiểu họ, đồng cảm, chia sẻ được với họ…thì ta càng đạt tới hiệu quả của quá trình tương tác.
Lý thuyết của ông được ứng dụng hiệu quả trong tâm lý trị liệu cũng như hữu ích với mọi mối tương giao như cha mẹ - con cái; giảng viên – sinh viên. [9], [173] - Tương tác trong lý thuyết phát triển tâm lý – xã hội của Eric Erikson Trong quá trình nghiên cứu về sự phát triển tâm lý con người, E.Erikson quan niệm rằng, con người là sản phẩm của xã hội và cho rằng, con người trong quá trình phát triển thường xuyên phải đối mặt với các khủng hoảng là do không thiết lập được sự cân bằng trong quá trình tương tác giữa cá nhân với xã hội. Ông nổi tiếng với thuyết khủng hoảng tính đồng nhất; tám khủng hoảng cuộc sống. Trong nghiên cứu của mình, ông đã chia sự phát triển đời sống tâm lý con người thành 8 giai đoạn gắn liền với quá trình tương tác của cá nhân với xã hội [166].
- Tương tác trong nghiên cứu của học thuyết liên ngôi vị Các nhà nghiên cứu của thuyết liên ngôi vị như H.S Sulivan (1892 – 1994), Robert Carson, theo Sulivan trong quá trình phát triển và hoạt động, cá nhân không tồn tại tách biệt với xã hội, liên ngôi vị. Quá trình phát triển của các cá nhân bản chất là để cá nhân thoả mãn các nhu cầu chủ yếu thông qua những tương tác liên ngôi vị. Carson trong nghiên cứu của mình đã phác thảo một hệ thống các loại hình hành vi liên ngôi vị. Theo ông, con người có 4 loại hành vi liên ngôi vị bao gồm: thù địch; thân thiện, thống trị, phục tùng.
Ông cho rằng sự tương tác giữa mọi người thay đổi theo tính hiệu quả và các thành quả của chúng tuỳ thuộc vào các loại hành vi được biểu lộ và trao đổi lẫn nhau. Áp dụng hệ thống các loại hình hành vi, các loại hình này có thể tiêu biểu cho bất kì sự tương tác định sẵn nào đó hay một loạt tương tác giữa hai người và quyết định sự tương tác giữa cái được hay cái mất mà sự tương tác tiêu biểu cho mỗi người. 10 Học thuyết liên ngôi vị có ảnh hưởng lớn trong tâm lý học, được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực trị liệu tâm lý. [9] - Tương tác trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học xã hội, xã hội học Các nhà Tâm lý học xã hội, xã hội học như:G.Goffmen (1922 – 1982), Herber Blumer (1900 – 1987) lại nghiên cứu tương tác trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân; cá nhân với nhóm xã hội.
Điển hình, Ch.Cooley đã quan tâm nghiên cứu sự hình thành hành vi cá nhân trong các mối tương tác xã hội. Từ các quan sát và thực nghiệm về sự tương tác xã hội giữa các cá nhân và giữa cá nhân với nhóm, Ch.Cooley đã hình thành lý thuyết tương tác nổi tiếng: “Tôi soi gương” hay là “cái tôi nhìn trong gương”.