Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm, vai trò và điều kiện hoạt động của y tế tư nhân 1. Khái niệm về y tế tư nhân Hành nghề y tư nhân là việc cá nhân hoặc tổ chức đăng ký để thực hiện khám bệnh, chữa bệnh [34]. Cơ sở y tư nhân là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý, điều hành [34].
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhà nước là cơ sở do Nhà nước quyết định thành lập [23]. Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật KBCB [23]. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cấp chứng chỉ hành nghề và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh. Mỗi người hành nghề chỉ được đăng ký chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật KBCB [23]. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở KBCB là người có chứng chỉ hành nghề theo quy đinh của Luật KBCB, chịu trách nhiệm trước pháp luật và toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở này [14]. Vai trò của y tế tư nhân Trên thế giới dù có sự khác nhau về chế độ xã hội, nhưng bất kỳ một quốc gia nào cũng có hệ thống y tế tư nhân (YTTN).
Tuy vậy ở mỗi nước vai trò hệ thống YTTN cũng rất khác nhau dưới sự kiểm soát của Nhà nước. Ở những nước phát triển, YTTN phát triển mạnh mẽ có thể cạnh tranh được với y tế nhà nước bằng cách mở bệnh viện, các viện nghiên cứu, các trung tâm ứng dụng công nghệ cao… với nhiều loại tiện nghi, trang thiết bị hiện đại phục vụ có chất lượng. Cung cấp y tế 5 tư nhân cũng đang phát triển ở những nước có thu nhập thấp và trung bình. Những người nghèo cũng như những người giàu thường tìm kiếm sự chăm sóc y tế từ các nhà cung cấp dịch vụ y tế tư nhân, bao gồm những điều kiện có tầm quan trọng về vấn đề sức khỏe cộng đồng như bệnh sốt rét, bệnh lao, bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Những lý do được người sử dụng dịch vụ đưa ra khi lựa chọn khu vực y tế tư nhân là sự chấp nhận tốt hơn, thời gian chờ đợi ngắn hơn, bảo mật thông tin hơn và sự nhạy cảm hơn đối với người sử dụng [43]. Sự phát triển của hệ thống YTTN ở các nước cũng khác nhau, đa dạng, góp phần làm giảm gánh nặng cho y tế Nhà nước, người dân dễ dàng tiếp cận lựa chọn các dịch vụ y tế thích hợp cho mình hơn. Ở nước phát triển như Canada, các cơ sở y tế tư nhân độc lập là một phần quan trọng của hệ thống chăm sóc sức khỏe gồm công cộng và tư nhân. Các dịch vụ y tế từ hệ thống y tế độc lập này cung cấp lợi ích cho bệnh nhân và công chúng như cải thiện tiếp cận với dịch vụ chăm sóc, giảm thời gian chờ đợi, sự lựa chọn tốt hơn trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sử dụng tốt hơn các nguồn lực y tế của họ [42].
Ở nước ta, trong những năm gần đây nhờ chính sách khuyến khích của Nhà nước, số lượng các cơ sở YTTN tăng lên nhanh chóng, Y tế tư nhân đã góp phần đáp ứng nhu cầu về khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân, giảm tải cho tuyến y tế công lập. Theo báo cáo nghiên cứu về thực trạng, vai trò và tiềm năng của y tế tư nhân năm 2007 của Chương trình hợp tác y tế Việt Nam- Thụy Điển cho thấy y tế tư nhân chủ yếu cung cấp dịch vụ sơ cứu ban đầu và điều trị các bệnh thông thường. Trung bình một người Việt Nam có 1,8 lần sử dụng dịch vụ tại cơ sở y tế tư nhân so với 1,2 lần tại cơ sở y tế nhà nước tuyến xã và 0,8 lần tại bệnh viện công. Y tế tư nhân hoạt động mạnh ở lĩnh vực khám bệnh ngoại trú, còn dịch vụ điều trị nội trú và phòng bệnh hầu như thuộc phạm vi nhà nước [15].
Đến năm 2014, cả nước có 170 bệnh viện tư nhân, hơn 30.000 phòng khám tư nhân và cơ sở dịch vụ y tế; qua công tác theo dõi, quản lý cho thấy nhiều bệnh viện tư nhân có cơ sở khang trang, thiết bị hiện đại, đã đáp ứng được các kỹ thuật cao trong chẩn đoán, điều trị, cung cấp nhiều dịch vụ có chất lượng cho nhân dân [7]. Tính đến tháng 6 năm 2017 thì cả 6 nước đã có 206 bệnh viện tư nhân, trên 30.000 phòng khám tư nhân và cơ sở dịch vụ y tế [12]. Y tế tư nhân có thế mạnh là tạo điều kiện cho người dân không phải đi xa, giảm thời gian chờ đợi, tiết kiệm được thời gian, người dân được quyền lựa chọn nơi mình tin tưởng, được đón tiếp niềm nở, ân cần hơn. Do sự phát triển của YTTN, đã bước đầu tác động đến các cơ sở y tế công, tạo sự động lực canh tranh lành mạnh về chất lượng phục vụ, thái độ chăm sóc và phục vụ người bệnh.
Qui định điều kiện hoạt động của các cơ sở hành nghề y tư nhân Theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh muốn hoạt động cần điều kiện chung sau: - Đối với người hành nghề phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp quy định. Chứng chỉ hành nghề được cấp một lần, có giá trị trong phạm vi cả nước. Chứng chỉ hành nghề là một trong các văn bằng liên quan đến y tế được cấp hoặc công nhận tại Việt Nam hoặc Giấy chứng nhận lương y, Giấy chứng nhận là người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền; có văn bản xác nhận quá trình thực hành, có giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. - Đáp ứng các quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
- Có đủ người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn. - Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (hay còn gọi là chủ cơ sở) phải có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 36 tháng. - Trường hợp đăng ký thành lập phòng khám chuyên khoa hoặc bác sỹ gia đình thì ngoài các điều kiện trên, người đứng đầu cơ sở phải là người hành nghề có bằng cấp chuyên môn phù hợp với loại hình hành nghề [23]. Điều kiện hoạt động của Phòng khám đa khoa tư nhân 7 Theo quy định của Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14 tháng 11 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [5] thì điều kiện cấp phép hoạt động đối với Phòng khám đa khoa là: Về quy mô phòng khám đa khoa phải đáp ứng ít nhất các điều kiện sau: có ít nhất 02 trong 04 chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi; có Phòng cấp cứu; có Buồng tiểu phẫu; có Phòng lưu người bệnh; có hai bộ phận xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh; Về cơ sở vật chất: có nơi tiếp đón, phòng cấp cứu, phòng lưu người bệnh, phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu.
Phòng cấp cứu có diện tích ít nhất 12m2; Phòng lưu người bệnh có diện tích ít nhất 15m2; có ít nhất từ 02 giường lưu trở lên, nếu có từ 03 giường lưu trở lên thì diện tích mỗi giường ít nhất là 05m2; các phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu có diện tích ít nhất 10m2. Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, quản lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật; bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh. Về thiết bị y tế: có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà phòng khám đa khoa đăng ký. Về tổ chức nhân sự: người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà phòng khám đa khoa đăng ký; có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng là người làm việc toàn thời gian tại phòng khám đa khoa; các đối tượng khác nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
Điều kiện hoạt động của Phòng khám chuyên khoa tư nhân Theo quy định của Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14 tháng 11 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [5] thì điều kiện cấp phép hoạt động đối với Phòng khám chuyên khoa là: 8 Về cơ sở vật chất: có địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình; xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh; phòng khám chuyên khoa phải có buồng khám bệnh, chữa bệnh có diện tích ít nhất là 10m2 và nơi đón tiếp người bệnh. Riêng đối với phòng khám chuyên khoa ngoại, phòng khám chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ phải có thêm buồng lưu người bệnh có diện tích ít nhất 12 m2; phòng khám phục hồi chức năng phải có thêm buồng phục hồi chức năng có diện tích ít nhất là 10 m2; Bảo đảm xử lý rác thải y tế theo quy định của pháp luật; bảo đảm vô trùng đối với buồng thực hiện thủ thuật, buồng cắm Implant, buồng kế hoạch hóa gia đình; bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh. Về thiết bị y tế: có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký; có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa.