Mở đầu, 3 chƣơng, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, danh mục các công trình công bố, phụ lục. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU TỰ Ý THỨC VỀ HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ HÀNH VI CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ CỦA PHẠM NHÂN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỰ Ý THỨC VÀ TỰ Ý THỨC VỀ HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ HÀNH VI CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ 1. Tổng quan những nghiên cứu về tự ý thức 1.
Những nghiên cứu về tự ý thức ở nước ngoài TYT là một thành tố tâm lý có vai trò quan trọng đối với sự phát triển đời sống tinh thần của con ngƣời, vì vậy, nó rất đƣợc các nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu. Có một số hƣớng nghiên cứu chính về TYT sau đây: - Hướng nghiên cứu cơ sở hình thành và phát triển của TYT + Một số nhà phân tâm học (Kerberg, Jeammet, S.) coi trọng và quan tâm nhiều đến vô thức hơn ý thức, trong đó có TYT. Họ cho rằng TYT của con ngƣời đƣợc hình thành do các xung đột và các rối nhiễu tâm lý trong quá trình sống của chính cá nhân đó.Adler, TYT nhƣ một cơ chế đƣợc hình thành ở cá nhân dƣới tác động của sự sợ hãi, không đƣợc bảo vệ trƣớc những thù địch của môi trƣờng xã hội [trích theo 22, tr. Nhƣ vậy, các nhà phân tâm học đã coi một số khó khăn về tình cảm, cảm xúc, nhu cầu của con ngƣời là cơ sở, là cơ chế hình thành TYT.
Điều đó có thể chỉ đúng với một số trƣờng hợp nhất định, bởi vì, trong thực tế, TYT là một yếu tố tâm lý đƣợc hình thành và phát triển ở tất cả những ngƣời có sự phát triển bình thƣờng. Nếu chỉ coi trọng cái vô thức, cái bản năng mà xem nhẹ ý thức, TYT thì mọi HV trong đó có HVPT cũng xuất phát từ vô thức và từ đó sẽ không giải quyết đƣợc đƣợc TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân. Erikson lại quan tâm đến mối quan hệ giữa sự phát triển của TYT và những thay đổi diễn ra trong cả đời ngƣời. Ông phân chia đời ngƣời làm tám giai đoạn phát triển và trong mỗi giai đoạn, cá nhân đều gặp phải một dạng khủng hoảng tâm lý - xã hội nhất định, dẫn tới sự thay đổi các mối quan hệ xã hội.
Theo ông, ở giai đoạn thứ năm (độ tuổi từ 12 đến 18 tuổi), lúc này cá nhân bắt đầu có sự 13 tìm hiểu mạnh mẽ bản thân mình, ở các em thƣờng xuất hiện những câu hỏi nhƣ: Mình là ai? Mình sẽ thành ngƣời nhƣ thế nào? Mình quan tâm nhất đến điều gì. Các em muốn tự khẳng định mình độc lập với ngƣời lớn, tách khỏi ngƣời lớn, tự suy nghĩ quyết định cho bản thân mình. Do đó, sự quan tâm không đúng mực của gia đình dễ ảnh hƣởng tới lòng tự trọng của trẻ. Erikson cho rằng, sự gần gũi chia sẻ động viên của ngƣời lớn trong gia đình là cách tốt nhất giúp các em phát triển lòng tự trọng của mình.
Trong giai đoạn này, nếu các em bị thất bại cộng với lòng tự trọng bị ảnh hƣởng, TYT của các em sẽ phát triển không đầy đủ. Điều đó thể hiện rõ nhất ở việc các em không tự tin vào khả năng của bản thân. Nhƣ vậy, tác giả đã chỉ ra các giai đoạn hình thành và phát triển của TYT, ảnh hƣởng của sự quan tâm của gia đình tới sự phát triển yếu tố này. Tuy nhiên, ngoài sự quan tâm của gia đình, nhiều yếu tố chủ quan và môi trƣờng khác cũng ảnh hƣởng tới TYT của cá nhân chƣa đƣợc tác giả đề cập đến.
+ Các nhà tâm lý học theo trƣờng phái hoạt động (L.Galperin…) cho rằng: con ngƣời làm ra chính bản thân mình bằng lao động và hoạt động xã hội [38]. Theo trƣờng phái này thì con ngƣời là tồn tại xã hội, tồn tại lịch sử, tồn tại lý trí, tồn tại lao động, tồn tại có tình cảm. HV và tâm lý đƣợc hình thành, tồn tại và phát triển trong quá trình hoạt động. Hoạt động là chìa khóa tìm hiểu, đánh giá, hình thành và điều khiển tâm lý, ý thức và TYT.
Ý thức và TYT đƣợc sản xuất ra bởi các mối quan hệ xã hội giữa con ngƣời với thế giới xung quanh thông qua hoạt động và giao tiếp. Sự phát triển của tâm lý, ý thức, TYT trải qua các giai đoạn: bào thai, sơ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trƣởng thành, trung niên và già lão. Các nhà tâm lý học nhƣ: A. Harter cho rằng, có mối liên hệ chặt chẽ giữa TYT và cái tôi với các đặc điểm tâm lý khác.
Họ cho rằng, khi cá nhân nhận thức, đánh giá đúng và tích cực cái tôi của mình sẽ giúp họ hoàn thành tốt các nhiệm của mình, thành công trong cuộc sống. Nhƣ vậy, theo các nhà tâm lý học hoạt động, TYT là cái đƣợc hình thành tƣơng đối muộn so với các thành tố tâm lý khác và nó có chi phối khá mạnh tới HV của cá nhân. 14 Tóm lại, TYT không phải là một yếu tố bẩm sinh, sẵn có từ khi mới sinh ra, nó đƣợc hình thành ở những ngƣời bình thƣờng tại một giai đoạn lứa tuổi nhất định và phát triển dần dần nhờ sự tham gia của họ vào các hoạt động xã hội. Bởi vậy, chúng tôi kế thừa lý thuyết trƣờng phái tâm lý học hoạt động vào nghiên cứu TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân.
- Hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa TYT và một số thành tố tâm lý, một số đặc điểm tâm lý của cá nhân + Tác giả A. Badura cho rằng, học tập thông qua việc bắt chƣớc các HV mẫu là một dạng điều chỉnh HV không phù hợp trong trị liệu tâm lý [13, tr. Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các quá trình TNT trong thực tiễn điều chỉnh HV và đề cao vai trò quá trình cá nhân tự điều chỉnh bản thân. Theo ông, khi cá nhân TNT tích cực về năng lực của mình, họ có sự tự tin về bản thân.
Đó là một yếu tố quan trọng giúp họ thành công trong nhiều nhiệm vụ khác nhau [106, tr. Khái niệm “cái tôi hiệu quả” do ông đƣa ra đƣợc ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo ông “cái tôi hiệu quả” là cái tôi đƣợc chủ thể cho là phù hợp với những hoàn cảnh khác nhau. Ông cho rằng, muốn điều chỉnh HV cần phải giúp cá nhân nhận diện đƣợc những nhân tố đang điều khiển HV của họ và từ đó tìm cách loại bỏ chúng.
Nhƣ vậy, sự hiểu biết về những chuẩn mực, quy định mà cá nhân đã lựa chọn và thừa nhận đóng vai trò quan trọng. Để điều chỉnh TYT cần thực hiện: thứ nhất, xác định những sự kiện và yếu tố tác động tạo ra TYT; thứ hai, xác định những tri thức (sự hiểu biết) là rào cản của sự thay đổi TYT; thứ ba, lựa chọn các phƣơng thức phù hợp để tác động thay đổi TYT theo hƣớng ngày càng phù hợp với quy tắc HV và chuẩn mực xã hội. Bandura đề nghị những cá nhân không bằng lòng về bản thân mình nên thực hiện 3 bƣớc để nâng cao TYT nhƣ sau [86]: thứ nhất, quan tâm đến việc nhìn lại mình và hãy hiểu về con ngƣời thật của mình. Cần có một cái nhìn trung thực về những HV của mình; thứ hai, quan tâm đến những tiêu chuẩn phấn đấu của bản thân (không nên đặt tiêu chuẩn quá cao, kỳ vọng quá nhiều để rồi ép mình trở thành ngƣời thất bại, nhƣng nếu đặt ra tiêu chuẩn thấp quá, chúng sẽ trở thành vô nghĩa); thứ ba, quan tâm và tìm cách để tự thƣởng 15 bản thân.
Hãy ân cần với chính mình. Hãy chúc mừng gặt hái của bản thân và biết chia tay với thất bại. Liệu pháp trên của A. Bandura đƣợc gọi là liệu pháp tự kiểm soát.
Nó đƣợc ứng dụng có hiệu quả trong trị liệu những vấn đề tƣơng đối đơn giản nhƣ thay đổi một số thói quen không tốt: hút thuốc lá, thói ăn vặt, hay thói quen chểnh mảng và lƣời biếng trong học tập. Tuy nhiên, đối với những vấn đề nhƣ nghiện ma túy, nâng cao TYT về HVPT và HVCHHPT chƣa đƣợc ông đề cập tới. + Trong nghiên cứu về vấn đề nghiện ma túy và khả năng tái nghiện, G.R Gordon, (1980) [99] thấy rằng, những ngƣời có khả năng duy trì thời gian kiêng, không thực hiện các HV nghiện là những ngƣời TNT đƣợc mình có khả năng đối đầu và ứng phó với các sự kiện diễn ra trong cuộc sống. Ngƣợc lại, sự TNT về bản thân không tích cực, cá nhân cảm nhận mình yếu đuối và bất lực trong cuộc sống, họ không có sự tự tin trong cuộc sống.
Những ngƣời đó dễ mắc vào sự cám dỗ và tệ nạn xã hội, đó là nguyên nhân dẫn tới sự phạm tội, tù tội và tiếp tục tái phạm tội. + Một trong những chuyên gia trong lĩnh vực trị liệu nhận thức ở Mỹ là R. Callahan cho rằng, những cảm xúc tiêu cực mà cá nhân TYT đƣợc thông qua trải nghiệm thôi thúc một số ngƣời sử dụng các chất gây nghiện. Ông đã phát hiện ra mối liên hệ giữa nghiện và lo hãi [87].
Theo ông thì lo hãi là sự hiện diện của cái sợ mà cá nhân TYT đƣợc mặc dù không có lý do khách quan bên ngoài để sợ. Những ngƣời nghiện dùng chất gây nghiện để có thể cảm thấy bản thân thấy thoải mái, giảm nhẹ những cảm xúc tiêu cực mà họ phải chịu. Nhƣng ông cũng lý giải rằng đó chỉ là những cảm giác giả tạo mà cá nhân TYT đƣợc để họ thoát khỏi lo hãi. Thực tế họ không hề nhận đƣợc một sự giảm nhẹ nào, cái mà họ nhận đƣợc chỉ là một hiệu ứng an thần, một sự che đậy tạm thời mà cá nhân tự nhận thấy.
Điều này thật nguy hiểm vì sự lo hãi đƣợc giải quyết bằng sự an ủi, giảm nhẹ bởi ma túy sẽ bị lặp đi lặp lại và dẫn tới sự nghiện ngập. Từ việc phát hiện ra mối liên hệ giữa lo hãi và nghiện ngập đã giúp Callathan tìm ra một phƣơng pháp chữa trị cho hầu hết các loại nghiện ngập, đó là cách vƣợt qua sự lo hãi không cần dùng đến những chất gây nghiện. 16 Nhìn chung, các nhà tâm lý học theo hƣớng nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa TYT và một số các thành tố tâm lý khác của con ngƣời và vận dụng kết quả nghiên cứu đó vào các lĩnh vực ứng dụng tâm lý học nhƣ cai nghiện ma túy, trị liệu tâm lý, cũng nhƣ giáo dục các kỹ năng giúp con ngƣời thành đạt.