Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân"
Tác giả: Nguyễn Hữu Toàn
Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành (Mã số: 62 31 03 01)
Cơ sở đào tạo: Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2014)
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hồi Loan và TS. Nguyễn Thị Hoa
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tự ý thức (TYT) là thành tố cốt lõi trong cấu trúc nhân cách, đóng vai trò điều khiển, định hướng và điều chỉnh hành vi của cá nhân. Việc thiếu hụt hoặc lệch lạc trong TYT dẫn đến xung đột nội tâm và hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội. Trong thực tiễn thi hành án hình sự tại Việt Nam, theo Báo cáo tổng kết công tác thi hành án phạt tù năm 2009 của Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp (Bộ Công an), tỷ lệ tái phạm tội trung bình trên toàn quốc là 20%, riêng đối với nhóm tội phạm về ma túy, tỷ lệ tái phạm lên tới 40,6%. Tình trạng này chịu sự tác động trực tiếp từ mức độ TYT của phạm nhân đối với hành vi phạm tội (HVPT) và hành vi chấp hành hình phạt tù (HVCHHPT) – yếu tố quy định ý thức kỷ luật, tinh thần học tập và lao động cải tạo để chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng.
Tuy nhiên, dưới góc độ tâm lý học, các công trình nghiên cứu về TYT của phạm nhân nói chung và nhóm phạm nhân phạm các tội về ma túy nói riêng ở Việt Nam chưa được tiến hành một cách toàn diện và có hệ thống. Do đó, luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là chỉ ra thực trạng TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma túy; làm rõ các yếu tố ảnh hưởng (niềm tin vào tương lai, mối quan hệ phạm nhân – phạm nhân, phạm nhân – gia đình, phạm nhân – cán bộ trại giam); từ đó đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao mức độ TYT của phạm nhân trong quá trình chấp hành án.
Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lý luận về TYT, HVPT, HVCHHPT và các biểu hiện tâm lý đặc thù của phạm nhân phạm tội ma túy.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng TYT về HVPT, HVCHHPT và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TYT của phạm nhân tại các cơ sở giam giữ.
- Đề xuất các biện pháp nâng cao mức độ TYT về HVPT và HVCHHPT cho phạm nhân, phục vụ công tác quản lý, giáo dục cải tạo tại các trại giam thuộc Tổng cục VIII – Bộ Công an.
Giả thuyết khoa học
Luận án xây dựng 2 giả thuyết khoa học chính:
- Giả thuyết 1: TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma túy thể hiện rõ nhất ở tự nhận thức (TNT), tự đánh giá (TĐG) về HVPT và HVCHHPT; trong đó thể hiện đậm nét ở mặt TNT về nguyên nhân và hậu quả của HVPT, TĐG HVPT và hành vi chấp hành lao động, chấp hành nội quy, kỷ luật trong trại giam.
- Giả thuyết 2: Có nhiều yếu tố tác động đến TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân; trong đó, yếu tố niềm tin của phạm nhân vào tương lai và mối quan hệ giữa phạm nhân với cán bộ trại giam có ảnh hưởng mạnh nhất, ngược lại mối quan hệ giữa phạm nhân với phạm nhân có mức độ ảnh hưởng yếu nhất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các biểu hiện của TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma túy.
- Khách thể nghiên cứu: Khảo sát trên 400 phạm nhân là người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên đang chấp hành hình phạt tù vì các tội danh về ma túy; 100 cán bộ trại giam (gồm cán bộ trinh sát, cán bộ giáo dục, cán bộ quản giáo, cán bộ cảnh sát bảo vệ); và 10 gia đình phạm nhân.
- Phạm vi không gian (Địa bàn): Thực hiện tại 4 trại giam trực thuộc Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an (Tổng cục VIII - BCA), bao gồm: Trại giam Tân Lập (tỉnh Phú Thọ), Trại giam Hoàng Tiến (tỉnh Hải Dương), Trại giam Phú Sơn 4 (tỉnh Thái Nguyên), Trại giam Ngọc Lý (tỉnh Bắc Giang).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào nhóm hành vi phạm tội về ma túy phổ biến (tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng, chiếm đoạt chất ma túy) và 4 nhóm yếu tố tác động chủ yếu đến TYT.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng trục nội dung:
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Cơ sở hình thành và phát triển của TYT: Các tác giả thuộc trường phái phân tâm học (O. Kernberg, P. Jeammet, S. Freud, A. Adler) tiếp cận TYT thông qua các xung đột vô thức, cơ chế phòng vệ và sự tự ti tâm lý. E. Erikson phân chia 8 giai đoạn phát triển tâm lý - xã hội, nhấn mạnh cuộc khủng hoảng cái tôi ở lứa tuổi 12–18 và vai trò của gia đình. Trường phái tâm lý học hoạt động Liên Xô (L.S. Vygotsky, A.N. Leontiev, P.Y. Galperin) khẳng định ý thức và TYT là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp xã hội, trong đó "TYT là ý thức xã hội được chuyển vào bên trong".
- Mối quan hệ giữa TYT và hành vi: A. Bandura phát triển khái niệm "cái tôi hiệu quả" (self-efficacy) và liệu pháp tự kiểm soát 3 bước. G.R. Gordon (1980) nghiên cứu khả năng duy trì kiêng tái nghiện thông qua năng lực tự nhận thức và ứng phó. R. Callahan chỉ ra mối liên hệ bản chất giữa trạng thái lo âu, cảm xúc tiêu cực và hành vi lạm dụng chất gây nghiện. J.G. Hull và cộng sự (1983) chứng minh tác động làm suy giảm TYT của rượu. J.Q. Wilson phân tích vai trò của lương tâm và tự kiểm soát trong sự kiềm chế HVPT.
- Cấu trúc của TYT: Các nghiên cứu của W. Purkey, Susan Harter, I.I. Chesnokova, V.V. Stolin, Petrulite, Mironova, Coodiev, S.L. Rubinstein, V.P. Levcovic phân định các thành tố nhận thức, cảm xúc, ý chí và các cấp độ "cái tôi quá khứ", "cái tôi hiện tại", "cái tôi lý tưởng".
- Diễn biến tâm lý và giáo dục phạm nhân trong trại giam: A.G. Kovaliev phân kỳ quá trình quản lý giáo dục phạm nhân thành 3 giai đoạn. A.V. Dulov chia quá trình chấp hành án thành 4 giai đoạn thích ứng tâm lý. Edwin M. Schur nghiên cứu nỗ lực tái lập cân bằng tâm lý sau khi phạm tội. Ph. Sundurov và I. Chupharovsky phân tích sự tác động của nội quy, chế độ giam giữ, gia đình và môi trường bạn tù đến sự biến đổi tâm lý phạm nhân.
Các nghiên cứu trong nước
- Về lý luận TYT: Các nhà tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành, Lê Như Hoa, Trần Ninh Giang, Đinh Văn Vang, Nguyễn Văn Lũy, Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu bản chất, cấu trúc của TYT theo quan điểm tâm lý học mác-xít và tâm lý học hoạt động, xác định TYT là cấu trúc thống nhất giữa nhận thức, thái độ và ý chí.
- Về tâm lý phạm nhân: Các tác giả Nguyễn Như Chiến, Nguyễn Đình Đặng Lục, Hoàng Thị Bích Ngọc, Chu Thị Mai, Đỗ Văn Thọ đã nghiên cứu thái độ, nhận thức của phạm nhân đối với hành vi phạm pháp và hình phạt của pháp luật, phân chia phạm nhân thành các nhóm có mức độ ăn năn hối hận và chấp hành khác nhau.
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù lý luận về TYT và thực tiễn tâm lý tội phạm đã được nhiều tác giả đề cập, song chưa có công trình nào nghiên cứu thực nghiệm một cách chuyên biệt, hệ thống về TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma túy tại các trại giam ở Việt Nam. Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống này bằng việc mô hình hóa cấu trúc TYT và lượng hóa các yếu tố tác động trong môi trường chấp hành án.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của tâm lý học mác-xít với hai nguyên tắc cốt lõi:
- Nguyên tắc hoạt động: Hoạt động và giao tiếp là phương thức hình thành, phát triển và bộc lộ TYT. TYT đóng vai trò là cơ chế điều chỉnh hoạt động tự tu dưỡng và cải tạo của phạm nhân.
- Nguyên tắc hệ thống: Xem xét TYT của phạm nhân trong mối quan hệ đa chiều với các yếu tố môi trường xã hội, bao gồm nhận thức về hình phạt tù, niềm tin cá nhân, tác động từ gia đình, bạn tù và cán bộ trại giam.
Định nghĩa thao tác:
- Tự ý thức: Là một dạng phát triển cao của ý thức, được cấu thành bởi tự nhận thức, tự đánh giá và tự điều chỉnh hành vi của bản thân theo chuẩn mực, quy định của xã hội được cá nhân thừa nhận và lựa chọn.
- Tự ý thức về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân: Là một dạng phát triển cao của ý thức được cấu thành bởi tự nhận thức, tự đánh giá của phạm nhân về HVPT và HVCHHPT, cùng quá trình tự điều chỉnh HVCHHPT theo nội quy, kỷ luật trại giam được phạm nhân thừa nhận và lựa chọn.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (kết hợp định tính và định lượng):
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Tổng hợp lý luận pháp luật hình sự, tâm lý học tư pháp và các văn bản chỉ đạo thi hành án.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế thang đo đo lường mức độ TNT, TĐG, TĐCHV và bảng hỏi kỹ thuật hoàn thiện câu. Dữ liệu được xử lý thống kê bằng điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) và phân tích hệ số tương quan.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá từ các nhà tâm lý học và cán bộ quản lý trại giam về bộ công cụ và các tiêu chí đo lường.
- Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, hành vi trong sinh hoạt, học tập và lao động cải tạo của phạm nhân.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản giáo, thân nhân gia đình và phạm nhân để làm rõ động cơ, diễn biến tâm lý.
- Phương pháp nghiên cứu qua lịch sử cuộc đời và phân tích trường hợp điển hình: Khai thác hồ sơ phạm nhân, phân tích sâu 2 trường hợp cá biệt đại diện cho các nhóm nhận thức khác nhau.
Nội dung chính theo từng chương
| Chương |
Tên chương theo văn bản |
Nội dung trọng tâm |
| Chương 1 |
Cơ sở lý luận nghiên cứu tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân |
Hệ thống hóa lý thuyết về ý thức, TYT, HVPT, tội phạm ma túy, HVCHHPT; xác lập cấu trúc 3 thành tố của TYT và chỉ ra các yếu tố tâm lý - xã hội ảnh hưởng. |
| Chương 2 |
Tổ chức và phương pháp nghiên cứu |
Quy trình tổ chức khảo sát tại 4 trại giam, xây dựng và kiểm định độ tin cậy của các thang đo; phân bổ mẫu 400 phạm nhân, 100 cán bộ và 10 gia đình. |
| Chương 3 |
Kết quả nghiên cứu tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân |
Phân tích định lượng và định tính thực trạng TNT, TĐG, TĐCHV; đo lường mức độ tác động của 4 yếu tố môi trường; phân tích 2 trường hợp điển hình (Phạm Hồng N. và Trần Xuân H.). |
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân
Chương này làm sáng tỏ các khái niệm cơ sở:
- Hành vi phạm tội về ma túy: Phân loại 5 nhóm hành vi vi phạm pháp luật hình sự theo quy định, trong đó các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy chiếm tỷ lệ 81,4%, tổ chức sử dụng chiếm 15,5%. Động cơ phạm tội chủ yếu xuất phát từ lợi ích kinh tế cá nhân (đặc biệt ở nhóm không có tiền sử nghiện) hoặc nhu cầu thỏa mãn cơn nghiện.
- Hành vi chấp hành hình phạt tù: Được biểu hiện cụ thể qua 5 khía cạnh: tiếp nhận sự giáo dục; hoàn thành định mức và ngày công lao động; tuân thủ nội quy, kỷ luật trại giam; tích cực đấu tranh với biểu hiện tiêu cực của các phạm nhân khác; đóng góp ý kiến cải tiến công tác quản lý giáo dục.
- Cấu trúc 3 thành tố của TYT:
- Tự nhận thức (TNT): Khả năng hiểu biết đúng đắn về nguyên nhân, hậu quả, tính chất trái pháp luật của HVPT và mục đích, ý nghĩa của hình phạt tù.
- Tự đánh giá (TĐG): Thái độ tự phê phán, nhìn nhận lỗi lầm (vô ý hay cố ý), đánh giá tính thỏa đáng của mức án và tự đánh giá mức độ tích cực của bản thân trong cải tạo.
- Tự điều chỉnh hành vi (TĐCHV): Nỗ lực tự giác chuyển hóa nhận thức và thái độ thành hành động cụ thể trong lao động, học tập và rèn luyện theo nội quy trại giam.
- Mối quan hệ giữa TYT và HVCHHPT: Tác giả phân chia thành 3 trường hợp: (1) TYT đúng dẫn đến điều chỉnh hành vi phù hợp và tự giác; (2) TYT đúng nhưng điều chỉnh hành vi không phù hợp do thiếu ý chí hoặc bị lôi kéo; (3) TYT sai dẫn đến chống đối kỷ luật hoặc phục tùng thụ động, giả tạo.
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu:
- Tổ chức nghiên cứu: Triển khai theo hai pha nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn 4 trại giam thuộc Tổng cục VIII (Tân Lập, Hoàng Tiến, Phú Sơn 4, Ngọc Lý).
- Kiểm định độ tin cậy công cụ: Kiểm tra hệ số Cronbach's Alpha và độ tương quan giữa các tiểu thang đo thuộc thang đo TYT và thang đo các yếu tố ảnh hưởng, đảm bảo công cụ có độ tin cậy và giá trị đo lường chuẩn xác trước khi tiến hành điều tra diện rộng trên 400 phạm nhân và 100 cán bộ trại giam.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm nổi bật:
- Thực trạng Tự nhận thức (TNT): Đa số phạm nhân nhận thức được HVPT của mình là vi phạm pháp luật hình sự và hiểu rõ hậu quả pháp lý của bản án. Tuy nhiên, nhận thức về nguyên nhân sâu xa dẫn đến hành vi phạm tội có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm phạm nhân nghiện ma túy (đổ lỗi cho hoàn cảnh, sự rủ rê) và nhóm không nghiện (thừa nhận do động cơ kinh tế và hám lợi).
- Thực trạng Tự đánh giá (TĐG): Phần lớn phạm nhân thừa nhận hành vi của mình là cố ý và mức án tòa tuyên là thỏa đáng với mức độ vi phạm. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận phạm nhân có tâm lý tự biện hộ, cho rằng mức án quá nặng so với vai trò của họ trong vụ án.
- Thực trạng Tự điều chỉnh hành vi (TĐCHV): TĐCHV thể hiện rõ nét nhất ở việc chấp hành nghiêm túc chế độ lao động, định mức sản phẩm và tuân thủ các mốc thời gian biểu, nội quy buồng giam. Khả năng chủ động đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực của bạn tù đạt mức độ thấp hơn so với việc tự kiểm soát hành vi của bản thân.
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng:
- Niềm tin vào tương lai: Phạm nhân có niềm tin vững chắc vào khả năng tái hòa nhập và sự tha thứ của xã hội có điểm TYT và kết quả rèn luyện cao hơn rõ rệt.
- Mối quan hệ với cán bộ trại giam: Sự công bằng, nhân văn và phương pháp giáo dục thuyết phục của cán bộ quản giáo có tác động tích cực rất lớn đến quá trình chuyển biến TYT của phạm nhân.
- Mối quan hệ với gia đình: Sự thăm nom, tiếp tế và động viên từ thân nhân là điểm tựa tinh thần cốt yếu giúp phạm nhân giữ vững tâm lý cải tạo.
- Mối quan hệ với phạm nhân khác: Mức độ ảnh hưởng tương đối thấp hơn so với mối quan hệ với cán bộ và gia đình, song các nhóm tiêu cực trong trại giam có thể gây cản trở sự tiến bộ của phạm nhân mới vào.
- Nghiên cứu trường hợp điển hình:
- Trường hợp 1 (Phạm Hồng N.): Điển hình cho quá trình chuyển biến nhận thức tích cực từ trạng thái hoang mang, tự ti ban đầu sang nhận thức sâu sắc về lỗi lầm, tích cực lao động và đạt kết quả xếp loại cải tạo tốt.
- Trường hợp 2 (Trần Xuân H.): Điển hình cho diễn biến tâm lý phức tạp, còn tư tưởng đổ lỗi cho hoàn cảnh, nhận thức chưa đầy đủ về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội ma túy, dẫn đến việc chấp hành nội quy còn mang tính đối phó.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống khái niệm lý luận về TYT, cấu trúc tâm lý của TYT về HVPT và HVCHHPT của nhóm phạm nhân phạm các tội về ma túy trong hệ thống khoa học tâm lý học chuyên ngành và tâm lý học pháp luật tại Việt Nam.
- Xác lập khung phân tích 3 thành tố tâm lý gắn liền với thực tiễn chấp hành án phạt tù: Tự nhận thức – Tự đánh giá – Tự điều chỉnh hành vi, đóng góp nguồn học liệu cho công tác giảng dạy môn học "Tâm lý quản lý giáo dục phạm nhân" tại Học viện Cảnh sát Nhân dân.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm khách quan, toàn diện về mức độ TYT và chỉ ra mối tương quan giữa các yếu tố tác động (niềm tin tương lai, quan hệ với cán bộ quản giáo, gia đình, bạn tù) đến hành vi cải tạo của phạm nhân ma túy.
- Làm căn cứ khoa học cho các trại giam thuộc Tổng cục VIII xây dựng kế hoạch phân loại phạm nhân, đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục pháp luật, đạo đức, tổ chức lao động dạy nghề phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng nhóm đối tượng.
Hệ thống kiến nghị, giải pháp
- Đối với các cơ quan quản lý và trại giam: Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật hình sự và thi hành án hình sự; cá biệt hóa các biện pháp giáo dục dựa trên mức độ nhận thức và tiền sử phạm tội của phạm nhân.
- Đối với đội ngũ cán bộ quản giáo: Nâng cao kỹ năng nắm bắt diễn biến tâm lý phạm nhân, xây dựng môi trường sư phạm nhân văn, xử lý nghiêm minh nhưng công bằng, phát huy vai trò cảm hóa của cán bộ.
- Đối với gia đình và cộng đồng xã hội: Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa trại giam và thân nhân phạm nhân, duy trì các hoạt động liên lạc, gặp gỡ để củng cố niềm tin và tạo điều kiện hỗ trợ tái hòa nhập sau khi chấp hành xong án phạt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi khách thể: Khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn ở nhóm phạm nhân phạm các tội về ma túy từ 18 tuổi trở lên, chưa mở rộng sang các nhóm tội danh khác (xâm phạm tính mạng, xâm phạm sở hữu) hoặc đối tượng người chưa thành niên phạm tội.
- Phạm vi địa bàn: Mẫu khảo sát tập trung tại 4 trại giam thuộc khu vực phía Bắc, chưa bao quát các trại giam ở miền Trung và miền Nam, nơi có thể có sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu và xã hội học tội phạm.
- Yếu tố tác động: Đề tài mới chỉ tập trung phân tích sâu 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng cơ bản, chưa đi sâu khai thác các biến số phụ như mức độ nghiện ma túy, thời gian đã chấp hành án hay trình độ học vấn cụ thể.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu TYT trên các nhóm tội phạm đặc thù khác để so sánh sự khác biệt về cấu trúc tâm lý và động cơ phạm tội.
- Khảo sát diện rộng trên các cơ sở giam giữ thuộc các vùng miền khác nhau trên toàn quốc nhằm kiểm định tính phổ quát của mô hình.
- Nghiên cứu sâu hơn về giai đoạn "hậu thi hành án", đánh giá sự duy trì của TYT và khả năng tự kiểm soát hành vi trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng nhằm phòng ngừa tái phạm tội bền vững.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Tâm lý học, Tội phạm học, Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự; có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp thang đo tâm lý với điều tra xã hội học tội phạm.
- Giảng viên các trường khối Công an nhân dân: Sử dụng làm tài liệu bổ trợ giảng dạy các chuyên đề về Tâm lý học tư pháp, Tâm lý học tội phạm và Giáo dục cải tạo phạm nhân tại Học viện Cảnh sát Nhân dân, Học viện An ninh Nhân dân.
- Cán bộ quản lý, cán bộ giáo dục và quản giáo tại các trại giam: Tham khảo quy trình đánh giá mức độ TYT để xây dựng hồ sơ theo dõi tâm lý và thiết kế các chương trình can thiệp giáo dục hướng thiện phù hợp cho từng phạm nhân.
Câu hỏi thường gặp
1. Cấu trúc của tự ý thức về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân gồm những thành tố nào?
Theo luận án, cấu trúc TYT của phạm nhân là một thể thống nhất gồm 3 thành tố tâm lý:
- Tự nhận thức (TNT): Hiểu biết về nguyên nhân, hậu quả của HVPT và tính chất của hình phạt tù.
- Tự đánh giá (TĐG): Thái độ nhìn nhận bản chất vô ý hay cố ý của hành vi và đánh giá mức độ nghiêm khắc của bản án.
- Tự điều chỉnh hành vi (TĐCHV): Khả năng chuyển hóa nhận thức thành việc chấp hành tự giác các quy định lao động và nội quy trại giam.
2. Tỷ lệ tái phạm tội của nhóm tội phạm ma túy tại thời điểm nghiên cứu đặt ra tính cấp thiết là bao nhiêu?
Theo số liệu Báo cáo năm 2009 của Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp (Bộ Công an) được trích dẫn trong luận án, tỷ lệ tái phạm tội trung bình ở Việt Nam là 20%, riêng đối với nhóm tội phạm về ma túy tỷ lệ này lên tới 40,6%.
3. Nghiên cứu thực tiễn của luận án được triển khai trên quy mô mẫu và địa bàn nào?
Nghiên cứu được thực hiện trên khách thể gồm 400 phạm nhân phạm các tội về ma túy, 100 cán bộ trại giam và 10 gia đình phạm nhân; tại 4 trại giam thuộc Tổng cục VIII - Bộ Công an: Trại giam Tân Lập (Phú Thọ), Trại giam Hoàng Tiến (Hải Dương), Trại giam Phú Sơn 4 (Thái Nguyên) và Trại giam Ngọc Lý (Bắc Giang).
4. Hai trường hợp điển hình nào được phân tích chi tiết trong Chương 3?
Luận án tiến hành nghiên cứu lịch sử cuộc đời và diễn biến tâm lý của 2 trường hợp cụ thể: trường hợp thứ nhất là phạm nhân Phạm Hồng N. (đại diện cho xu hướng chuyển biến nhận thức tích cực) và trường hợp thứ hai là phạm nhân Trần Xuân H. (đại diện cho nhóm nhận thức chưa đầy đủ, còn tâm lý đối phó).
5. Yếu tố nào có tác động mạnh nhất và yếu nhất đến TYT của phạm nhân theo giả thuyết nghiên cứu?
Theo giả thuyết khoa học được kiểm chứng trong luận án, yếu tố niềm tin của phạm nhân vào tương lai và mối quan hệ giữa phạm nhân với cán bộ trại giam có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ TYT; ngược lại, mối quan hệ giữa phạm nhân với phạm nhân có mức độ ảnh hưởng yếu nhất.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Hữu Toàn là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành, giải quyết trọn vẹn vấn đề lý luận và thực tiễn về tự ý thức của phạm nhân phạm tội ma túy trong quá trình chấp hành án phạt tù. Thông qua hệ thống phương pháp nghiên cứu hỗn hợp và việc khảo sát 400 phạm nhân tại 4 trại giam, luận án đã làm sáng rõ cấu trúc 3 thành tố tâm lý (Tự nhận thức - Tự đánh giá - Tự điều chỉnh hành vi) cùng các yếu tố chi phối quá trình cải tạo. Kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung cơ sở khoa học cho tâm lý học pháp luật mà còn cung cấp các giải pháp ứng dụng thiết thực phục vụ công tác quản lý, giáo dục và phòng ngừa tái phạm tội trong hệ thống trại giam tại Việt Nam.