Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài “Tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX” do nghiên cứu sinh Lê Thùy Dương thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2017), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Nguyên Việt. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02).

Về tính cấp thiết, Phật giáo sau khi du nhập vào Việt Nam đã trải qua quá trình bản địa hóa sâu sắc, hình thành nên các giá trị truyền thống dân tộc, tiêu biểu là triết lý nhập thế. Trải qua các thời kỳ lịch sử, dù có những giai đoạn suy giảm vị thế dưới sự độc tôn của Nho giáo, tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo vẫn duy trì vai trò chủ đạo. Đầu thế kỷ XX, trước bối cảnh xã hội thuộc địa và tình trạng suy thoái của giới Tăng già đe dọa sự tồn vong của Phật giáo, phong trào Chấn hưng Phật giáo đã bùng nổ mạnh mẽ, mang tinh thần nhập thế sâu sắc với phương châm “Phật pháp tại thế gian, không lìa thế gian giác”. Việc nghiên cứu đề tài đáp ứng yêu cầu nhận diện các giá trị truyền thống trong đời sống tinh thần dân tộc và vận dụng vào định hướng phát triển văn hóa, tự do tín ngưỡng hiện nay.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: phần lớn các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận tư tưởng nhập thế dưới thời Lý - Trần hoặc tiếp cận từ góc độ sử học, văn học, tôn giáo học thuần túy; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ triết học nhằm làm rõ bản chất, nguồn gốc, các đặc trưng, giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Phật giáo tại Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX.

Mục đích nghiên cứu: Luận án làm rõ những nội dung, đặc điểm trong tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng đầu thế kỷ XX. Trên cơ sở đó chỉ ra đặc trưng, giá trị, hạn chế của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo đối với đương thời và rút ra bài học lịch sử đối với hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:

  • Một là, phân tích mối quan hệ giữa tư tưởng nhập thế như một đặc trưng của Thiền Phật giáo nói chung và Thiền Phật giáo Việt Nam nói riêng với Chấn hưng Phật giáo.
  • Hai là, phân tích nguyên nhân, diễn biến của phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX và làm rõ một số nội dung, đặc điểm của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào này.
  • Ba là, làm rõ những giá trị và hạn chế của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX đối với đương thời từ đó rút ra bài học lịch sử đối với hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được tác giả phân định thành ba nhóm công trình chính:

Nhóm công trình Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung và luận điểm chính trích xuất từ văn bản
1. Tư tưởng nhập thế của Phật giáo và Thiền Phật giáo Thích Thanh Kiểm (1989), Suzuki D. (1992), Hoàng Thị Thơ (2005, 2008), Tản Mộng Từ (2007), Nguyễn Tuệ Chân (2008), Viên Trí (2009), Sallie B. King (2009), Kimuara Taiken (2012), Đỗ Quang Hưng (2006). Phân tích nguồn gốc nhập thế từ Phật giáo Nguyên thủy tại Ấn Độ (chống phân biệt đẳng cấp); vai trò của Lục tổ Huệ Năng trong việc định hình Thiền tông Trung Hoa với các quan điểm về "kiến tính", "đốn ngộ", xem thiền định là phương tiện. Nhấn mạnh khái niệm "Đạo Phật dấn thân vì xã hội" (Sallie B. King) và sự khác biệt giữa nhập thế Phật giáo với hiện tượng tục hóa phương Tây (Đỗ Quang Hưng).
2. Tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam Nguyễn Tài Thư (1991), Nguyễn Lang (1992, 1994), Nguyễn Hùng Hậu (1996), Nguyễn Trọng Chuẩn (2007), Doãn Chính (2013), Nguyễn Tuấn Anh (2010), Lê Đức Hạnh (2010), Hoàng Văn Cảnh (2003), Đoàn Văn An (2013), Đỗ Ngây (2013), Đặng Thị Lan (2003), Nguyễn Tài Đông (2008), Nguyễn Kim Sơn (2009), Lê Thị Lan (2010), Hoàng Thị Thơ (2010). Tập trung làm rõ tư tưởng triết học và tinh thần nhập thế thời Đinh, Tiền Lê, đặc biệt là thời Lý - Trần qua các nhân vật: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang. Khẳng định Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là đỉnh cao của sự Việt Nam hóa Phật giáo, kết hợp triết lý Thiền với bối cảnh xã hội Đại Việt và mối quan hệ Tam giáo đồng nguyên ("dùng Nho để trị quốc, dùng Phật để trì quốc").
3. Phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX Nguyễn Tài Thư (1991), Nguyễn Lang (1994), Trần Văn Giàu (1997), Nguyễn Duy Hinh (1999), Nguyễn Đại Đồng (2008), Lê Tâm Đắc (2008), Vũ Tuấn Sán, Đặng Vũ Khiêu, Bạch Thanh Bình, Bùi Hữu Dược; cùng hệ thống báo chí Phật giáo (Đuốc Tuệ, Pháp Âm, Từ Bi Âm, Viên Âm, Tiếng chuông sớm...). Khảo sát bối cảnh lịch sử, nguyên nhân, diễn biến cuộc chấn hưng ở ba miền. Đánh giá sự ra đời của Hội Phật giáo Bắc Kỳ, báo Đuốc Tuệ, công tác đào tạo Tăng tài, dịch thuật kinh sách và hoạt động cứu tế xã hội gắn liền với các tên tuổi như Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, Hòa thượng Thích Trí Hải, Hòa thượng Tố Liên. Ghi nhận sự xuất hiện của quan điểm "Nhân gian Phật giáo".

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Mặc dù các công trình đi trước đã cung cấp nền tảng tư liệu phong phú về lịch sử và văn bản học, song phần lớn nghiên cứu dừng lại ở cấp độ mô tả lịch sử sự kiện hoặc tập trung phân tích thời kỳ Lý - Trần. Các vấn đề lý luận triết học về tính tất yếu của việc chấn hưng, mối quan hệ biện chứng giữa chấn hưng và sự biến đổi của tư tưởng nhập thế, cũng như những đặc thù tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX chưa được tổng hợp và lý giải sâu sắc. Luận án kế thừa kết quả của các công trình tiền nhiệm, đồng thời bổ sung khoảng trống lý luận triết học về sự chuyển biến của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo trong giai đoạn cận đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành triết học kết hợp liên ngành khoa học xã hội:

  • Cơ sở lý luận:

    • Lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng.
    • Các lý luận về giá trị đạo đức, lối sống, chính trị - văn hóa của tôn giáo trong đời sống xã hội.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp luận nghiên cứu lịch sử triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin: phương pháp kết hợp logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và đối chiếu, phương pháp hệ thống hóa và khái quát hóa.
    • Các phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội: Tôn giáo học, Sử học, Văn học và Phật học.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu:

    • Kinh điển Phật giáo nguyên thủy và Đại thừa (Kinh Kim Cương, Pháp Bảo Đàn Kinh...).
    • Các văn bản lịch sử, ngữ lục Thiền tông Việt Nam: Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam Tổ thực lục, Thiền uyển kế đăng lược lục, Khóa hư lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh.
    • Khối tư liệu báo chí Phật giáo giai đoạn Chấn hưng (1920 - 1945), trọng tâm là tuần san/báo Đuốc Tuệ tại miền Bắc cùng các ấn phẩm báo chí liên quan (Tiếng chuông sớm, Từ Bi Âm, Viên Âm...).
    • Các công trình khảo cứu, biên niên sử và kỷ yếu hội thảo chuyên ngành của các học giả hiện đại.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu, 4 chương nội dung (chia thành 13 tiết), Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả và Danh mục tài liệu tham khảo.

Chương Tên chương trong văn bản Trọng tâm nghiên cứu
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hệ thống hóa 3 nhóm nghiên cứu về nhập thế, Thiền học và Chấn hưng Phật giáo; xác định khoảng trống triết học cần giải quyết.
Chương 2 Nhập thế và tư tưởng nhập thế xuất hiện trong quá trình chấn hưng của Thiền Phật giáo Làm rõ khái niệm nhập thế - xuất thế, lịch sử tư tưởng nhập thế, 7 đặc trưng của tư tưởng nhập thế Thiền học Việt Nam và bản chất chấn hưng.
Chương 3 Phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX với tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Phân tích tiền đề kinh tế - xã hội, diễn biến, nội dung cải cách giáo lý, đào tạo Tăng tài, báo chí và các biểu hiện nhập thế mới ("Nhân gian Phật giáo").
Chương 4 Giá trị, hạn chế và bài học lịch sử từ tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX đối với hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay Đánh giá giá trị làm phong phú truyền thống dân tộc; chỉ ra các hạn chế về lý luận giáo lý và sinh hoạt tôn giáo; rút ra bài học cho Giáo hội Phật giáo hiện nay.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này thực hiện việc phân loại, phân tích thư tịch và tài liệu nghiên cứu hiện có thành ba nhóm chuyên đề: các công trình về tư tưởng nhập thế của Phật giáo thế giới và Việt Nam; các công trình về phong trào Chấn hưng Phật giáo (đặc biệt tại Bắc Kỳ); các tài liệu đánh giá mối quan hệ giữa nhập thế và công cuộc Chấn hưng Thiền Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu lịch sử, tôn giáo học đi trước chưa làm rõ tính linh hoạt triết học của Thiền trong thực tiễn dẫn đến tính tất yếu của tư tưởng nhập thế, từ đó định vị rõ nhiệm vụ luận án cần giải quyết.

Chương 2: Nhập thế và tư tưởng nhập thế xuất hiện trong quá trình chấn hưng của Thiền Phật giáo

Chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm nền tảng và lịch sử hình thành tư tưởng nhập thế. Tác giả phân tích cặp phạm trù "nhập thế" (gánh vác việc đời) và "xuất thế" (lánh đời, tu hành tâm linh), khẳng định Phật giáo tuy mang hình thức xuất thế nhưng bản chất giáo lý Nguyên thủy đã chứa đựng tinh thần nhập thế thông qua lý thuyết Duyên khởi, Vô ngã, Vô thường, lòng Từ bi - Hỷ xả và sự phủ định chế độ đẳng cấp khắt khe của Bà La Môn giáo tại Ấn Độ cổ đại.

Luận án đúc kết 7 đặc trưng cơ bản của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo và Thiền Phật giáo Việt Nam:

  1. Coi giải thoát vừa là mục đích, vừa là phương pháp: Bản chất Thiền bắt đầu và kết thúc ở giác ngộ; kinh nghiệm giác ngộ của các Tổ thiền được truyền tải linh hoạt qua công án thay vì công thức giáo lý máy móc.
  2. Động tác truyền yếu chỉ bằng công án và sự kết hợp thực hành: Sử dụng công án ở chiều sâu tâm linh kết hợp với việc phổ biến Tam học (Giới - Định - Tuệ) để diệt trừ Tam độc (Tham - Sân - Si) ở chiều rộng xã hội cho giới cư sĩ.
  3. Đề cao phương pháp đốn ngộ của Thiền Nam tông (Huệ Năng): Đáp ứng nguyện vọng giải thoát của số đông chúng sinh, hướng tới "kiến tính", vượt qua tính vị kỷ và nhận thức bản thể của thế giới là "Không" (sunyata).
  4. Gỡ bỏ tính vị kỷ, hợp nhất chủ thể và khách thể: Giúp người tu vượt qua suy lý logic thông thường, nắm bắt nghịch lý Thiền và thực hiện sứ mệnh xã hội theo tinh thần "Phật pháp tại thế gian, không lìa thế gian giác".
  5. Sự hòa quyện giữa tông chỉ Thiền với hệ tư tưởng Nho giáo: Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử chấm dứt các dòng truyền thừa bên ngoài, dung hợp tinh thần nhập thế của Nho giáo với Thiền học để giải quyết các vấn đề lịch sử của xã hội phong kiến Việt Nam ("dùng Nho để trị quốc, dùng Phật để trì quốc").
  6. Hành động nhập thế mang tính tích cực xã hội cao: Khác với tính chất nội bộ thiền viện của một số thiền sư Trung Hoa, các thiền sư Việt Nam (tiêu biểu là thời Trần) thâm nhập sâu vào đời sống chính trị, quân sự, ngoại giao, trực tiếp tham gia bảo vệ và xây dựng đất nước.
  7. Sử dụng thi văn (thơ thiền) và dung hợp Tam giáo, Thiền - Tịnh - Mật: Tích hợp cả logic và phi logic, đốn ngộ và tiệm ngộ, tạo nên diện mạo văn hóa đặc thù của Phật giáo Việt Nam.

Chương này cũng phân tích khái niệm "chấn hưng" (làm cho hưng thịnh và phát triển). Chấn hưng xuất phát từ nguyên nhân chủ quan (khủng hoảng giáo lý, suy thoái tăng đồ) và khách quan (biến đổi chính trị - xã hội), là quá trình tự vận động, đổi mới nhằm giải thiêng, thích ứng và đưa tư tưởng nhập thế phát triển lên nấc thang mới.

Chương 3: Phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX với tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo

Chương 3 đi sâu vào thực tiễn lịch sử phong trào tại Bắc Kỳ. Luận án phân tích bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX dưới ách cai trị của thực dân Pháp, sự suy giảm nghiêm trọng về giới luật và học vấn của giới tu hành, cùng luồng ảnh hưởng từ phong trào Duy tân và phong trào Chấn hưng Phật giáo tại Trung Quốc (do Thái Hư đại sư khởi xướng).

Phong trào tại Bắc Kỳ diễn ra qua các giai đoạn từ tiền Chấn hưng (1920 - 1934) với sự lên tiếng của các cư sĩ, tăng sĩ trên báo chí, đến giai đoạn hoạt động chính thức (1935 - 1944) khi Hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập, đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ. Nội dung và phương thức triển khai của cuộc chấn hưng bao gồm:

  • Cải cách giáo lý và học thuật: Thành lập các trường Phật học, tổ chức đào tạo Tăng tài có hệ thống; đẩy mạnh công tác dịch thuật kinh điển từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ để đại chúng hóa Phật pháp.
  • Phương thức truyền bá qua báo chí: Xuất bản tuần báo Đuốc Tuệ làm cơ quan ngôn luận, đăng tải các bài viết tranh luận về cải cách tôn giáo, đạo đức và lối sống tu hành.
  • Hoạt động dấn thân xã hội: Hình thành tư tưởng "Nhân gian Phật giáo" (do Thiền sư Thích Trí Hải khởi xướng), chuyển hướng đạo Phật từ việc cúng lễ cầu siêu sang phục vụ nhân sinh, tham gia cứu tế, mở hội Từ thiện Tế sinh (với sự đóng góp tích cực của cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha và Hòa thượng Tố Liên).

Từ đó, tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo trong giai đoạn này đã chuyển hóa từ phương diện giáo lý thuần túy sang lối sống tôn giáo thực tiễn của các Sa-môn, gắn kết trực tiếp giữa đạo pháp và vận mệnh dân tộc.

Chương 4: Giá trị, hạn chế và bài học lịch sử từ tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX đối với hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay

Chương 4 tổng kết giá trị, chỉ ra hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm:

  • Giá trị: Phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đã làm phong phú thêm tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo trong đời sống tinh thần dân tộc; định hình các đặc điểm riêng của Thiền Phật giáo Việt Nam thời cận đại; phát huy tinh thần yêu nước và các giá trị đạo đức truyền thống trong công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước.
  • Hạn chế:
    • Hạn chế về giáo lý: Các cuộc tranh luận học thuật thời kỳ này chủ yếu dừng lại ở việc chấn chỉnh, dịch thuật và diễn giải lại kinh điển, chưa xây dựng được một hệ thống lý luận triết học hoàn toàn mới so với truyền thống.
    • Hạn chế trong đời sống tôn giáo: Phong trào chịu sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền thực dân; việc thực hành "Thiền - Tịnh song tu" trên thực tế thiên về Tịnh độ tông (niệm Phật) hơn là thực hành Thiền định chuyên sâu; sự phân hóa trong tổ chức Tăng già chưa được khắc phục triệt để.
  • Bài học lịch sử: Cung cấp các bài học về công tác đào tạo Tăng tài, xây dựng tổ chức Giáo hội thống nhất, kết hợp hài hòa giữa việc giữ gìn giới luật truyền thống với tinh thần dấn thân phục vụ xã hội ("Nhân gian Phật giáo"), và định hướng hoạt động cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận:

    • Hệ thống hóa và làm rõ khái niệm, nguồn gốc, bản chất của tư tưởng nhập thế trong Phật giáo, khẳng định nhập thế không đối lập tuyệt đối với xuất thế mà là quá trình thích ứng thực tiễn của Phật giáo trước những biến đổi xã hội.
    • Luận giải tính linh hoạt của Thiền trong đời sống thực tiễn dẫn đến tính tất yếu của việc nhập thế; chỉ ra nguồn mạch phát triển liên tục của tư tưởng nhập thế từ thời Bắc thuộc, qua thời Lý - Trần (Thiền phái Trúc Lâm) cho đến phong trào Chấn hưng đầu thế kỷ XX.
    • Phân tích và đúc kết 7 đặc trưng cơ bản của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo Việt Nam, làm rõ sự kết hợp giữa Thiền học với Nho giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng bản địa.
  2. Về mặt thực tiễn:

    • Khảo cứu toàn diện phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX dưới lăng kính triết học, làm rõ vai trò của các tổ chức Phật giáo (Hội Phật giáo Bắc Kỳ), cơ quan ngôn luận (báo Đuốc Tuệ), và các nhân vật tiêu biểu (Thích Trí Hải, Tố Liên, Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha) trong việc đưa tư tưởng nhập thế vào đời sống thực tế.
    • Chỉ ra vai trò của tư tưởng nhập thế đối với đời sống tôn giáo của phật tử, cư sĩ đương thời; làm rõ mô hình "Nhân gian Phật giáo" và hoạt động cứu tế từ thiện xã hội.
  3. Kiến nghị và bài học đề xuất:

    • Đề xuất vận dụng bài học lịch sử của phong trào Chấn hưng vào hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay, chú trọng nâng cao trình độ Phật học cho tăng ni, kết hợp hài hòa việc tu tập tâm linh với trách nhiệm xã hội, phát huy truyền thống phụng sự dân tộc trong thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế:

  • Luận án tập trung chủ yếu vào không gian địa lý Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX (theo đúng phạm vi nghiên cứu đã xác định), do đó chưa bao quát và so sánh sâu sắc với toàn bộ diễn biến, đặc thù của phong trào Chấn hưng Phật giáo tại Trung Kỳ và Nam Kỳ trong cùng thời kỳ.
  • Nguồn tư liệu nghiên cứu chủ yếu dựa trên các văn bản, báo chí và sách xuất bản bằng chữ quốc ngữ, chữ Hán lưu trữ tại các thư viện trong nước; nguồn tài liệu lưu trữ tiếng Pháp về sự quản lý của chính quyền thuộc địa đối với Hội Phật giáo Bắc Kỳ chưa được khai thác sâu.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh tư tưởng nhập thế của Phật giáo giữa ba miền Bắc - Trung - Nam trong toàn bộ tiến trình Chấn hưng Phật giáo Việt Nam (1920 - 1954).
  • Nghiên cứu sâu hơn sự phát triển và biến đổi của tư tưởng "Nhân gian Phật giáo" từ phong trào Chấn hưng đầu thế kỷ XX cho đến hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 và trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Giá trị tham khảo

Công trình luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Cung cấp khung lý thuyết, nguồn tư liệu thư mục phong phú và phương pháp tiếp cận triết học đối với lịch sử tư tưởng tôn giáo Việt Nam; đặc biệt là chương tổng quan tài liệu và chương phân tích 7 đặc trưng nhập thế của Thiền tông.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các chuyên đề về Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Triết học Phật giáo, Xã hội học tôn giáo và Lịch sử văn hóa Việt Nam cận đại.
  • Tổ chức tôn giáo (Giáo hội Phật giáo Việt Nam): Cung cấp các luận cứ lịch sử và bài học kinh nghiệm thực tiễn về công tác tổ chức Giáo hội, đào tạo tăng tài, quản lý báo chí truyền thông tôn giáo và triển khai các chương trình từ thiện xã hội theo định hướng "Đạo pháp - Dân tộc".
  • Nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách tôn giáo: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá đúng đắn vai trò xã hội của Phật giáo, hỗ trợ xây dựng chính sách quản lý tôn giáo, phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "nhập thế" được luận án định nghĩa như thế nào trong bối cảnh Phật giáo? Trong luận án, tác giả giải nghĩa "thế" là đời, việc đời (thế sự), tục đời (thế tục); "nhập" là vào, đối lập với "xuất" (lánh đời, đi tu). Tinh thần nhập thế của Phật giáo dùng để chỉ các hoạt động của tăng sĩ và phật tử tham gia vào nếp sống sinh hoạt xã hội (từ thiện, giáo dục, cứu trợ, giải quyết vấn đề nhân sinh) trên tinh thần Từ bi - Hỷ xả và trí tuệ Bát nhã, thích ứng với đòi hỏi của thực tiễn theo nguyên lý "Phật pháp tại thế gian, không lìa thế gian giác".

2. Bảy đặc trưng của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo Việt Nam được tác giả đúc kết gồm những điểm nào? Bảy đặc trưng gồm: (1) Coi giải thoát vừa là mục đích, vừa là phương pháp; (2) Truyền đạt yếu chỉ bằng công án ở chiều sâu và phổ biến Tam học diệt trừ Tam độc ở chiều rộng; (3) Đề cao phương pháp đốn ngộ của Thiền Nam tông Huệ Năng nhằm hướng tới kiến tính và tính Không; (4) Xóa bỏ tính vị kỷ, hợp nhất chủ thể - khách thể; (5) Hòa quyện tông chỉ Thiền với tinh thần nhập thế của Nho giáo thời phong kiến ("dùng Nho để trị quốc, dùng Phật để trì quốc"); (6) Hành động nhập thế mang tính tích cực xã hội cao, trực tiếp tham gia bảo vệ và xây dựng đất nước; (7) Sử dụng thơ thiền để truyền tải, dung hợp Tam giáo và phối hợp Thiền - Tịnh - Mật.

3. Tạp chí/báo Đuốc Tuệ và cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha có vai trò gì trong phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ? Báo Đuốc Tuệ là cơ quan ngôn luận quan trọng của Hội Phật giáo Bắc Kỳ, đóng vai trò diễn đàn học thuật, phổ biến giáo lý bằng chữ quốc ngữ và thảo luận về các vấn đề cải cách Phật giáo. Cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha đã hiến tặng máy in cho Hội Phật giáo Bắc Kỳ ngay khi thành lập, tích cực dịch kinh sách, viết báo, đồng thời dấn thân vào các hoạt động xã hội như tham gia Hội Tế sinh cùng cụ Cả Mọc, Hoàng Đạo Thúy, Trần Duy Hưng để trực tiếp cứu trợ người dân gặp nạn.

4. Khái niệm "Nhân gian Phật giáo" xuất hiện trong phong trào Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ có nội dung gì? Khái niệm "Nhân gian Phật giáo" (do Thiền sư Thích Trí Hải khởi xướng) là biểu hiện của tư tưởng nhập thế tích cực, chủ trương đưa "đạo Phật vào giữa đời". Nội dung bao gồm việc phác thảo học thuyết xã hội Phật giáo trên các lĩnh vực cứu tế tương trợ, từ thiện nhân đạo, xây dựng đạo đức cá nhân, gia đình, xã hội và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước.

5. Luận án chỉ ra những hạn chế chính nào của tư tưởng nhập thế Thiền Phật giáo qua phong trào Chấn hưng Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX? Luận án chỉ ra hai hạn chế cơ bản: Thứ nhất về giáo lý, phong trào tập trung nhiều vào việc dịch thuật, diễn giải kinh điển và chấn chỉnh phương pháp tu tập chứ chưa xây dựng được một hệ thống tư tưởng triết học Phật giáo hoàn toàn mới. Thứ hai về đời sống tôn giáo, thực hành tu tập có xu hướng thiên về Tịnh độ tông (niệm Phật) hơn là thực hành Thiền định chuyên sâu, hoạt động bị ràng buộc bởi thể chế thuộc địa và tổ chức Tăng đoàn chưa đạt được sự thống nhất hoàn toàn trên cả nước.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thùy Dương là công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ triết học về tư tưởng nhập thế của Thiền Phật giáo Việt Nam qua phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, quá trình hình thành, 7 đặc trưng cốt lõi của tư tưởng nhập thế Thiền học và sự chuyển biến của nó trong bối cảnh xã hội cận đại. Công trình không chỉ chỉ ra các giá trị lịch sử và hạn chế nội tại của phong trào Chấn hưng mà còn đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay.