Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam 1. Khái niệm “nhập thế” “Nhập thế” là thuật ngữ được hình thành từ Nho giáo – một hệ thống triết học mang tính thực tiễn chính trị và luân lý đạo đức rất cao. Triết học Nho giáo nhấn mạnh khía cạnh trách nhiệm xã hội của mỗi con người.
Đặc biệt nhấn mạnh đến bổn phận luân lý đạo đức, coi đó là chuẩn mực và nền tảng cho mọi sự tiến bộ của xã hội phong kiến. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, thì khái niệm “Nhập thế” có nghĩa là “vào gánh vác việc đời, không xa lánh cõi đời” [60, tr. Nhập thế là nhập vào đời sống xã hội, hòa vào đời sống xã hội, ở mức độ cao hơn, tích cực hơn là đóng góp, cống hiến sức mình vào sự phát triển của dân tộc, xã hội. Trong khái niệm trên ta thấy khái niệm nhập thế với ý nghĩa “gánh vác việc đời” được đặt trong sự đối nghịch với “không xa lánh cõi đời”, thực tế, trong Phật giáo chính truyền nguyên thủy không có khái niệm “Nhập thế”.
Ở đó chỉ có khái niệm “Xuất thế”, tức là thoát ra khỏi “thế gian” (moska), gần nghĩa với “xa lánh cõi đời”, hoặc ra khỏi “thế tục” (samvrti) để được “giải thoát”, để có thể tiến tới cõi “niết bàn” hoặc đến chốn “viên tịch”, Tịnh độ nơi không còn biến hóa, không còn sự khổ đau. Khi viết về biểu hiện của Phật giáo nhập thế, trong bài viết “Nhận thức về tinh thần nhập thế của Phật giáo” HT. Thích Huệ Thông đã viết: “Một tu sĩ với lòng từ bi, tỉnh giác và chánh niệm, dấn thân vào đời sống xã hội, làm nhiều việc lợi ích nhân sinh nhưng tâm không dính mắc. Đấy gọi là Phật giáo nhập thế, hòa nhập vào đời sống xã hội truyền bá vào giáo lý Phật đà, dấn thân vào cuộc đời làm lợi ích nhân sinh” [56, tr.
12 Tóm lại, tinh thần nhập thế của Phật giáo là tâm thế và hành động phục vụ nhân sinh, đưa giáo lý Phật giáo vào đời sống xã hội làm lợi lạc cho xã hội, tinh thần nhập thế đó được thực hiện bởi các nhà tu hành, tín đồ Phật tử của Phật giáo trong các dòng chảy Bắc Truyền và Nam Truyền để có những biểu hiện khác nhau, phong phú. Rất cần được nghiên cứu sâu, cụ thể. Tinh thần Nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ V, VI TCN, phạm trù trung tâm hướng đến sự giác ngộ và giải thoát bằng con đường diệt khổ. Đức Phật đã bỏ hơn 06 năm xuất thế tu tập để tìm “đạo” và có 49 ngày hành thiền dưới gốc cây Bồ Đề cho đến khi đạt tới sự “giác ngộ”.
Sau khi Đức Phật thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề, trào lưu tư tưởng tôn giáo - Phật giáo hình thành. Đức Phật đã dành 45 năm cuộc đời mình để thuyết pháp, cứu độ chúng sinh. Có quan điểm cho rằng, Phật giáo được coi là một tôn giáo xuất thế, lánh đời với những tu sĩ xa rời cõi tục, sống tại những am tự yên tĩnh vắng vẻ để tu hành. Điều này được lý giải do “Thời Phật tại thế, sau khi được Đức Phật giáo huấn, các vị Tỳ kheo thường tìm nơi yên tĩnh như dưới gốc cây hay các khu rừng vắng để tọa thiền quán tưởng.
Người đời nhìn hiện tượng này cho rằng Đạo Phật chủ trương xuất thế, xa lánh thế gian” [56, tr. Tuy nhiên, ngay từ thời này mục tiêu diệt khổ đem lại an lạc đã thể hiện rất rõ tinh thần nhập thế của Phật giáo. Ngay khi thành đạo, Đức Phật Tổ đã bắt đầu công cuộc hoằng hóa chúng sinh, đưa giáo lý Phật giáo lan tỏa đến với nhiều người, giác ngộ họ để đạt đến giải thoát. Đức Phật dạy các đệ tử của mình hãy đi muôn nơi, mỗi người một ngả, dùng nhiều phương tiện khác nhau để giáo hóa chúng sinh, đưa chúng sinh đến bến bờ giải thoát: “ Này các Tỳ kheo! Hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng với đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài người, loài trời.
Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ kheo! Hãy thuyết giảng Chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa 13 lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe giảng Chánh pháp sẽ bị nguy hại ” [32, tr 45, ĐHVH, 1972].
Như vậy, nhìn sâu vào hiện thực bản thân Đức Phật Tổ và các đệ tử của Ngài không hề xa lánh đời sống, không hề chọn con đường ẩn tu mà dấn thân vào đời sống, vì hạnh phúc lợi lạc của chúng sinh. Trong kinh sách Phật giáo khác nhau đều thấm đẫm tinh thần, tư tưởng “ Phụng sự chúng sinh là thiết thực cúng dường chư Phật ” cũng thể hiện rõ tinh thần nhập thế của Phật giáo và về sau nhất là trong Bắc tông tinh thần nhập thế ngày càng được tỏ rõ. Trên con đường các thế hệ đệ tử của Đức Phật đi trao truyền Phật pháp, Phật giáo đã đến Việt Nam, hình thành nên Phật giáo Việt Nam. Về thời điểm Phật giáo du nhập vào Việt Nam thì còn nhiều quan điểm chưa thống nhất, nhưng đa số nhiều tài liệu nghiên cứu đều có chung nhận định: Phật giáo vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây Lịch [38, tr.
Phật giáo vào Việt Nam bằng hai con đường từ Ấn Độ và Trung Quốc. Khi đến Việt Nam, với phương châm “ tùy duyên phương tiện ” Phật giáo đã nhanh chóng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần của người dân, ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội. Ở những thế kỷ đầu Phật giáo du nhập, hình tượng vị Phật trong tâm thức người Việt cũng đã thể hiện sự dung hòa mạnh mẽ với tín ngưỡng bản địa Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của người Việt: “ Như vậy trong sơ kỳ Phật giáo tại Việt Nam, sự giác ngộ luôn luôn được gắn chặt với một số phẩm chất có tính quyền năng, như có thể lớn có thể nhỏ, có thể đi trong nước,. Và vị Phật quyền năng này đã xuất hiện ngay vào thời Mâu Tử tại ngôi chùa Pháp Vân nổi tiếng, tương truyền là do Sĩ Nhiếp (137 - 226) dựng nên ” [49, tr.
Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, dân tộc Việt Nam với tinh thần khoan dung tôn giáo đã hình thành quan hệ “ Tam giáo đồng nguyên ”, (Phật – Nho – Lão) “Tam giáo dung hợp” trong đời sống xã hội. 14 Những giai đoạn tiếp theo, yêu cầu thiết thực của xã hội Việt Nam, tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam càng thể hiện rõ nét. Vào thời Đinh, thiền sư Ngô Chân Lưu, được vua phong hiệu Khuông Việt đại sư, đứng đầu tăng thống người đã miệt mài cống hiến trí huệ sức lực của mình cho tồn vong của dân tộc; Khuông Việt đại sư đã đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, dám mạnh dạn đề xuất đường hướng cai trị những điều có lợi cho đất nước, kiên quyết chống lại những hành động đe dọa chủ quyền đất nước. Thiền sư có vai trò dẫn dắt tinh thần đóng góp đặc biệt cho nền ngoại giao Đại Việt trong buổi đầu độc lập: “ Bằng tài năng và sự thông tuệ, Đại sư Khuông Việt đã chinh phục được các vị vua đứng đầu đất nước buổi đầu độc lập.
Năm 40 tuổi, tài năng mẫn tiệp của ông đã vang dội đến triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng liền vời ông vào cung hỏi Phật pháp và vận nước. Khâm phục trước tài ứng đối rành mạch, giảng luận tinh tường, nhà vua phong cho ông chức Tăng thống. Hai năm sau (971), vua tiếp tục ban phong cho ông tước Khuông Việt đại sư , giữ lại tu hành ở kinh đô để tiện hỏi han, bàn luận việc nước.
Từ đây, ông không chỉ chăm lo tu hành, giảng pháp, mà còn nhập thế, coi việc nước cũng là việc đạo. Từ đó, nhân cách của một nhà ngoại giao trí dũng song toàn trong ông có dịp bộc lộ rõ nét ” [28, tr. Suốt thời Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần, thời kỳ Phật giáo Việt Nam phát triển rực rỡ, tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam càng được thể hiện rõ nét. Đặc biệt thời Lý - Trần, Phật giáo nhập thế được coi là một đặc điểm nổi bật của Phật giáo Việt Nam.
Thời Lý, ngay từ buổi đầu thành lập vương triều Lý, các thiền sư Phật giáo tiêu biểu như thiền sư Vạn Hạnh, bằng tầm nhìn và những hành động thực tiễn của mình đã góp công lớn vào việc thành lập vương triều Lý. Thiền sư Vạn Hạnh đã có công dưỡng dục Lý Công Uẩn trong môi trường giáo dục trí tuệ, từ bi của Phật giáo, chuẩn bị nền tảng cho một vị vua anh minh, giàu lòng nhân ái: “ Có thể nói, quan hệ giữa thiền sư Vạn Hạnh với Lý Công Uẩn thực chất là quan hệ thầy – trò, 15 một mối quan hệ trong sáng và đáng tôn kính và trân trọng. Việc thiền sư Vạn Hạnh giúp cho Lý Công Uẩn lên ngôi thay nhà Tiền Lê để trở thành một vị vua đứng đầu triều Lý hoàn toàn xuất phát từ tinh thần yêu nước. Không những vậy, Vạn Hạnh còn tự cho mình phải có trách nhiệm với dân tộc, luôn tham gia tích cực vào việc bàn thảo kế sách đánh giặc hoặc chính sự trị quốc ” [48, tr.
Ngay sau khi lên ngôi, với sự giúp sức, hậu thuẫn của các vị thiền sư Phật giáo, vua Lý Công Uẩn đã đưa ra một loạt quyết định quan trọng, có tầm chiến lược để mở ra vận hội mới cho dân tộc, đó là quyết định rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, sắp xếp lại các đơn vị hành chính, thực hành đường lối trị nước lấy dân làm gốc, thương dân.