phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. NOI DUNG Chuong 1 PHAT GIAO VIET NAM VA NHUNG VAN DE CO BAN CUA DAO DUC PHAT GIAO VIET NAM 1.1 Khai quat vé Phat giáo Việt Nam 1.1 Sự du nhập của Phật giáo ở Việt Nam Việt Nam nằm trên bán đảo Ấn Độ - Trung Hoa, giữa hai đất nước rộng lớn, hai dân tộc đông dân cư của thế giới, hai nền văn minh sáng lạn của Á Châu là An Độ va Trung Hoa. Vì vậy, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nhiều của hai nền văn minh ay. Sự du nhập cua Phật giáo vào Việt Nam do hai con đường, đường biển từ phía Nam lên và đường bộ từ phía Bắc xuống.
Trong bốn nhà truyền giáo đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam, thì có tới ba nhà sư là người Ấn Độ, đi đường thuỷ sang Trung Hoa truyền đạo và đã ghé lại Việt Nam. Đó là các ngài Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội và Chi Cương Lương. Nhà truyền giáo thứ tư là người Trung Hoa, Ngài Mâu Bác đã đi đường bộ từ phía Bắc xuống. Có thê nói, Phật giáo vào Việt Nam do cả đường thuỷ lẫn đường bộ, cả từ phía Nam lên, lẫn phía Bắc xuống.
Tuy nhiên, nước ta bị Trung Hoa đô hộ ngót một ngàn năm, sau đó cũng còn lệ thuộc về văn hoá và chính trị, nên con đường truyền giáo từ Trung Hoa sang càng trở thành con đường chính. Trung tâm Phật giáo đầu tiên của Việt Nam là Luy Lâu. Nhiều con đường thuỷ bộ quan trọng của Việt Nam lúc bấy giờ đều qua Luy Lâu. Con đường bộ đi Phả Lại, Đông Triều, Quảng Ninh, đến biên giới Việt - Trung.
Con đường thủy từ Dâu nối sông Đuống, sông Hồng ra biển hoặc nối với sông Lục Đầu, sông Thai Bình rồi ra biển Đông, vị trí giao thông tiện lợi đó đã khiến cho Luy Lâu trở thành trung tâm kinh tế sam uất. Khách buôn Trung Quốc, An Độ Trung A cũng tìm đến đây để trao đổi hàng hóa. Luy Lâu đã là trung tâm thương mại lớn có tính quôc tê. Các đoàn sứ thân ở các nước phía Nam trước khi đến kinh đô Trung Hoa dừng lại một thời gian ở Luy Lâu để làm quen ngôn ngữ, văn tự và phong tục tập quán.
Là trung tâm kinh tế và chính trị, Luy Lâu trở thành nơi hội tụ của các luồng văn hoá, điều đó có lợi cho việc truyền bá Phật giáo ở Việt Nam. Khi vào đến đây, Phật giáo không hoàn toàn giống như ở An Độ. Nó đã bị biến dạng do truyền thống tư tưởng và phong tục tập quán cũng như điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam lúc bấy giờ tác động. Phật giáo Luy Lâu gắn liền với tín ngưỡng dân gian, được dân gian hoá và phong tục hoá.
Người Việt Nam ai cũng hiểu rằng truyền thuyết Phật giáo Việt Nam đầu tiên là Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu, liên quan đến hoạt động truyền giáo của nhà sư Khâu Đà La, người An Độ. Từ Trung Hoa, Ba tông phái được truyền vào Việt Nam. Đó là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông. Thiên Tông là tông phái Phật giáo do nhà sư An Độ, Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ VI.
Thiền nghĩa là tĩnh tâm. Tĩnh tâm, tập trung trí tuệ suy nghĩ để tìm ra chân lý. Tu theo Tông phái này đòi hỏi nhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phô biến ở tầng lớp trí thức và giới thượng lưu. Ở đây, cái tâm con người rất được đề cao, như Quốc sư núi Yên tử nói với Trần Thái Tông: “Núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta, tâm lặng lẽ sáng suốt ấy là chân Phật”.
Khi mọi người vẫn thường nhắc nhở nhau rằng: “Phật tại tâm” chính là tư tưởng của Thiền tông. Tịnh Độ Tông là tông phái dựa vào tha lực. Tông phái này thuộc về Đại Thừa, chủ trương dạy người chuyên tâm niệm Phật dé được vãng sinh về cảnh giới Tịnh độ của Phật A Di Đà. Do đó tông này mới có tên là Tịnh Độ Tông.
Đây là một trong nhiều pháp môn của Phật mà đặc điểm là dễ tu, dé chứng, rất 'Bui tùa s,ch ThiÒn T«ng ChØ Nam trÝch trong *Khãa H- Lôc” cña Hôa Th-ing ThYch Thanh Tg dBch, Nxb teng hip Thụnh Phé HA ChÝ Minh. thích hợp với đại đa số quần chúng. Với pháp môn này bất luận hạng người nào, trong thời gian nào, hoàn cảnh nào cũng có thê tu hành được cả. Nếu so sánh với con đường di thì tông này là một đại lộ bang phang, rộng rãi mát mẻ, hành gia dé đi mà mau đến, không sợ gặp nguy hiểm chướng ngại giữa đường.
Bởi những lẽ ấy, nên từ xưa đến nay, đã không biết có bao nhiêu người chọn lựa pháp môn này dé tu hành. Riêng ở Việt Nam, ngày xưa cũng như hiện nay có biết bao nhiêu người là môn đồ của Tông này. Nhờ cách thức tu đơn giản như vậy mà Tịnh Độ Tông phù hợp với những người bình dân và trở thành Phật giáo của giới bình dan, được phô biến ở khắp đất nước Việt Nam. Mật Tông là tông phái sử dụng những phép tu huyền bí như dùng linh phù, mật chú, ấn quyết.
để mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát. Mật Tông khi vào Việt Nam nhanh chóng hoà vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp thuật, yém bua, trị tà ma chữa bệnh. Với ý nghĩa của Mật Tông là ba nghiệp thanh tịnh, thân ngồi trì chú, tay bắt ấn, thân không làm các điều tội ác, vì thế mà thân nghiệp, khâu nghiệp, ý nghiệp đều được thanh tịnh. Cho nên tam nghiệp hăng thanh tịnh đồng nghiệp vãng Tây Phương, có nghĩa là ba nghiệp được thanh tịnh đều sinh về cảnh giới Tây Phương cực lạc.
Đạo Phật ở nước ta với các tông phái Thiền - Tịnh - Mật, có khả năng đáp ứng nhu cầu của các tầng lớp xã hội khác nhau. Thiền tông có tính chất bác học, nhưng lại không đề cập đến những yêu cầu thực tế hàng ngày của con người, nên thường được tầng lớp trí thức có đời sống vật chất khá giả chấp nhận. Mật Tông, với thuật phù chú, bùa phép với phương pháp hàng long, phục hồ, tran tà yêm huyệt, tuy thô thiển về mặt cách thức, nhưng lại đáp ứng nhu cầu trong tâm lý của con người. Tịnh độ Tông, đem lại cho con người một thiên đường ở cõi Tây phương cực lạc cùng với chủ trương: “cứu nhân độ thế” đồi đời, đôi kiếp cho con người.
Các tông phái Tịnh - Mật đặc biệt là Tinh Độ Tông 10 có sức cuốn hút đối với tầng lớp bình dân và mang tính chất đại chúng. Mỗi tông phái trên đều có những nét nổi trội riêng đáp ứng được những nhu cầu nhiều mặt của người dân, được đủ mọi thành phần xã hội chấp nhận. Phật giáo vào Việt Nam không có những lễ nghi phức tạp, người dân ở mọi trình độ đều có thé gia nhập đời sống dao một cách dé dàng thuận tiện. Đó cũng là điều khiến cho Đạo Phật có thé ăn sâu, lan toa rộng rãi ảnh hưởng của nó trong cộng đồng dân cư Việt Nam.
Phật giáo, khi du nhập vào Việt Nam, đã có nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng bản địa, do vậy đã diễn ra quá trình Phật giáo hoá tín ngưỡng song song với quá trình tín ngưỡng hoá Phật giáo, để trở thành Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Việt Nam là sự tong hợp, chat lọc những tinh tuý của các tông phái Phật giáo, dé trở thành một hệ thống tư tưởng vừa từ bị, hỷ xả, vừa nâng cao tính thần Bồ Tát đạo trong Phật giáo Đại thừa. Tinh thần Bồ Tát đạo đã ảnh hưởng sâu rộng trong lòng dân chúng Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại, nó thể hiện trong tâm ở đức tính từ bi, tinh thần “cứu khổ” “cứu nạn” lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha. Tinh thần này còn khiến cho các tu sĩ Phật giáo xuất phát từ lý tưởng giải thoát, cứu độ chúng sinh, lấy thế gian dé làm đối tượng dé giác ngộ cho mình và cho quan sinh.
Phật giáo vào Việt Nam không hoàn toàn giống như khi nó du nhập vào các quốc gia láng giềng. Chăng hạn như Thái Lan, Tích Lan, Lào, Campuchia, chủ yếu là Phật giáo Nam Tông. Còn ở Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Mông Cô thuần tuý chỉ có Phật giáo Bắc Tông. Chính nhờ tinh thần khé lý và khé cơ của Phật giáo cộng với tinh thần khai phóng của Phật giáo Việt Nam mới có được kết quả như vậy.
Tuy nhiều tông phái của Phật giáo chủ trương bất lập văn tự, song ở Việt Nam chính các vi thiền sư xưa lẫn nay đã để lại rất nhiều các giá trị, đặc biệt các Thiền viện ở Việt Nam đều tụng kinh g6 m6 như các tự viện Tông Tịnh Độ. Dòng Thiền Ty Ni Da Lưu Chi kết hợp với Mật giáo, có II nhiều thiền sư phái này như Ngài Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không đều nổi tiếng là giỏi phép thuật trong việc trừ tà, chữa bệnh. Điều đặc biệt ở đây là, trong khi khai triển Phật giáo Việt Nam, các thiền sư Việt Nam đã không thiền theo kiểu mẫu của các thiền sư Ấn Độ và Trung Hoa mà mở lay một con đường riêng phù hợp với dân tộc. Trong khi tiếp nhận với hai luồng tư tưởng ấy, các thiền sư Việt Nam đã khéo léo điều chỉnh tính hai cực Ấn Độ, Trung Hoa.
Một bên thì quá ham chuộng sự bay bồng, thần bí, một bên quá thực tiễn duy lý. Khi Phật giáo vào Trung Hoa đã gây cho các nhà phật học những cuộc tranh luận sôi nổi về giáo pháp, suốt cả quá trình lịch sử của nó là sự phát sinh ra những tôn giáo, những cuộc đấu tranh tư tưởng dữ đội, điển hình là cuộc đấu tranh giữa phái thiền Nam Phương của Huệ Năng với thiền phái miền Bắc của Thần Tú vào thời kỳ sơ Đường. Ở Việt Nam thì khác, trên pháp đàn tư tưởng thời Lý cũng như thời Trần - thời kỳ vàng son của Phật giáo Việt Nam và cả sau này không có những sự đối lập, tất cả đều quy về một mục đích chính là tu hành, giải thoát. Phải chăng sự thống nhất về ý thức, tư tưởng, dung hoà giữa các tông phái và đoàn kết dân tộc đã uốn nắn Phật giáo Việt Nam theo con đường dung hoà thống nhất đó.
Đến thế kỷ thứ X, Việt Nam đã trải qua một ngàn năm Bắc thuộc đô hộ.