phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 02 chƣơng, 4 tiết. 6 CHƢƠNG 1 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN 1.1 Tiền đề lý luận và thực tiễn hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên 1. Cơ sở kinh tế - xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên Bối cảnh thời đại trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xảy ra rất nhiều biến động. Chủ nghĩa tƣ bản chuyển sang giai đoạn Chủ nghĩa đế quốc.Chúng tăng cƣờng các cuộc chiến tranh xâm lƣợc và bóc lột thuộc địa.Cũng trong những năm cuối thế kỷ XIX, trung tâm của cách mạng chuyển từ các nƣớc châu Âu sang nƣớc Nga.I Lênin đã vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác cùng với Đảng Bôsêvích Nga lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mƣời vĩ đại giành thắng lợi năm 1917.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mƣời đã làm cho chủ nghĩa cộng sản từ lý luận trở thành thực tiễn sinh động, không chỉ giải phóng cho giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động, đƣa họ đến địa vị làm chủ xã hội: “Cách mạng Tháng Mƣời đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tƣ sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của ngƣời lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có ngƣời bóc lột ngƣời”[40, tr. 338], mà nó còn làm rung chuyển thế giới, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tƣ bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mƣời đã đánh thức và cổ vũ những ngƣời bị áp bức, bóc lột, bất công trên thế giới, khơi dậy tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con ngƣời. Nhƣ Hồ Chí Minh đã nhận định: “Giống nhƣ mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mƣời Nga chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu ngƣời bị áp bức, bóc lột trên trái đất.
Trong lịch sử loài ngƣời chƣa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa đến nhƣ thế”[40, tr. Đánh giá về ý nghĩa thời đại và những tiến bộ xã hội của Cách mạng Tháng Mƣời, Hồ Chí Minh đã 7 khẳng định: “Cách mạng tháng Mƣời đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng. Cách mạng Tháng Mƣời nhƣ tiếng sét đánh thức nhân dân châu Á thức tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay mở ra trƣớc mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”[40, tr. Đối với Việt Nam chúng ta từ thế kỷ XVIII chế độ phong kiến đã lâm vào tình trạng khủng khoảng một cách trầm trọng.
Trong giai đoạn chúa Nguyễn Phúc Ánh cầu viện Pháp đánh nhà Tây Sơn thì các thuyền buôn phƣơng Tây đã đến Việt Nam cùng với đó là sự xuất hiện của các nhà truyền giáo của đạo Công giáo. Những kẻ này núp dƣới danh nghĩa truyền đạo để đi thăm dò mở đƣờng cho thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta. Và dã tâm đó đã đƣợc thực dân Pháp thực hiện.Vào mờ sáng ngày 01/9/1858 thực dân Pháp đã nổ súng xâm lƣợc Việt Nam. Triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã nhanh chóng đầu hàng giặc Pháp.
Việt Nam từ đây trở thành đất bảo hộ của Pháp, triều đình phong kiến chỉ còn là bù nhìn, xã hội Việt Nam lúc này mâu thuẫn dâng cao hơn lúc nào hết, ngoài mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến với giai cấp nông dân, lúc này còn nổi lên một mâu thuẫn bao trùm đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp. Sau khi hoàn tất quá trình xâm lƣợc Việt Nam, ngƣời Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ƣơng cho đến địa phƣơng. Chúng chia nƣớc ta ra làm ba kỳ với ba chế độ khác nhau và tiến hành các chính sách cai trị về chính trị, kinh tế và văn hóa. Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị theo kiểu thực dân, chúng đã tƣớc bỏ hết các quyền đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến triều Nguyễn; chia Việt Nam ra làm ba kỳ, mỗi kỳ có một chế độ cai trị riêng.
Đồng thời với chính sách nham hiểm này, thực dân Pháp còn câu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. Với chính sách “chia để trị” và” dùng ngƣời Việt trị ngƣời Việt” thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam bị chia cắt, lòng dân ly tán, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc để dễ bề 8 dập tắt các cuộc khởi nghĩa của nhân dân yêu nƣớc, khiến cho xã hội Việt Nam chúng ta lúc bấy giờ hết sức ngột ngạt về chính trị. Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cƣớp đoạt ruộng đất để lập đồn điền, xây dựng các hầm mỏ xí nghiệp nhằm phục vụ cho các nhu cầu phát triển công nghiệp ở chính quốc. Lúc này nhân dân An Nam phải sống rất khổ cực dƣới hai tầng áp bức thực dân và phong kiến, không những bị tƣớc đoạt hết các quyền tự do dân chủ, bị tƣớc đoạt hết các nguồn tƣ liệu sản xuất cơ bản mà nhân dân ta còn bị thực dân Pháp bóc lột đến tận xƣơng tủy với với hàng chục loại thuế khác nhau nhƣ là thuế gạo, thuế ruộng đất, thuế muối, thuế thân.
Hồ Chí Minh đã kết luận: “Từ năm 1890 đến năm 1896, thuế trực thu tăng gấp đôi; từ năm 1896 đến năm 1898 lại tăng lên gấp rƣỡi. Làng nào bị tăng thuế cũng cắn răng mà chịu; hỏi còn biết kêu vào đâu? Đƣợc thể các ngài Công sứ càng làm già. Nhiều ngƣời Pháp coi việc các làng ngoan ngoãn đóng thuế nhƣ vậy là một bằng chứng rõ ràng rằng mức thuế không có gì là quá đáng”[27, tr. Về văn hóa giáo dục, để dễ bề cai trị, thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân, mở nhà tù nhiều hơn trƣờng học, duy trì các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, ngăn chặn sự ảnh hƣởng của văn hóa tiên tiến vào Việt Nam kể cả văn hóa tiến bộ Pháp, đầu độc nhân dân ta nhất là lực lƣợng thanh niên bằng thuốc phiện và rƣợu cồn cùng với những văn hóa phẩm phƣơng Tây đồi trụy nhằm làm suy nhƣợc giống nòi, ru ngủ thanh niên làm suy giảm tinh thần đấu tranh cách mạng.
Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chế độ cai trị thực dân ở Đông Dƣơng: “Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm.bằng thuốc phiện, bằng rƣợu.chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập”[26, tr. Đặc biệt nhấn mạnh về tội ác của chính sách ngu dân mà thực dân Pháp tiến hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Lúc ấy, cứ một nghìn làng thì có đến một nghìn năm trăm đại lý bán lẻ rƣợu và thuốc phiện. Nhƣng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ có vẻn vẹn mƣời trƣờng học.hàng năm ngƣời ta đã tọng từ 23 đến 24 triệu lít rƣợu cho 12 triệu ngƣời bản xứ kể cả đàn bà và trẻ con”[27, tr. 9 Đến đầu thế kỷ XX, với những chính sách cai trị cùng với các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã biến đổi một cách sâu sắc, đặc biệt là sự phân hóa giai cấp.
Lúc này xã hội Việt Nam ngoài hai giai cấp chính là giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân, thì dƣới tác động của các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã xuất hiện thêm các giai cấp, tầng lớp mới nhƣ giai cấp công nhân, giai cấp tƣ sản và tầng lớp tiểu tƣ sản. Giai cấp địa chủ. Giai cấp này đƣợc sinh ra và tồn tại trong lòng xã hội phong kiến, khi thực dân Pháp sang xâm lƣợc và đô hộ Việt Nam chúng ta thì giai cấp này cùng với chính quyền phong kiến triều Nguyễn đã đầu hàng và làm tay sai cho Pháp để cùng bóc lột nhân dân ta. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đó, giai cấp địa chủ cũng có sự phân hóa trong nội bộ của mình.
Một bộ phận giai cấp địa chủ cam tâm tình nguyện làm tay sai cho Pháp, làm công cụ bóc lột nhân dân lao động để vơ vét của cải cho thực dân Pháp; bên cạnh đó cũng có một bộ phận của giai cấp địa chủ có tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nƣớc, căm ghét chế độ thực dân và chính quyền bù nhìn phong kiến nên đã đứng về phe cách mạng, ủng hộ cách mạng hoặc trực tiếp nổi dậy làm thủ lĩnh của một số phong trào cách mạng. Giai cấp nông nhân. Giai cấp nông dân là lực lƣợng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam với hơn 90% dân số. Tuy nhiên, đây cũng là giai cấp phải chịu nhiều cực khổ nhất dƣới hai tầng áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến.
Ngoài việc mỗi ngƣời phải gánh trên vai hàng trăm thứ thuế vô lý của thực dân, phong kiến, họ còn bị tƣớc đoạt hết ruộng đất cho thực dân mở các đồn điền, họ bị bắt đi phu, đi lính cho Pháp. Một lực lƣợng lớn ngƣời trong độ tuổi lao động, đặc biệt là thanh niên đã bị thực dân Pháp bắt phu, bắt lính, họ bị bóc lột và đánh đập một cách thậm tệ. Miêu tả về tình cảnh này, Hồ Chí Minh đã viết: “Phần lớn những đồn điền này đều đƣợc thực dân lập ra bằng lối cƣớp giật đƣợc hợp pháp hóa. Hàng bao nhiêu làng đã bị tƣớc đoạt theo kiểu đó, và dân bản xứ đã rơi vào cảnh phải lao động cho bọn chúa đất đƣơng thời, bọn này chiếm đoạt có khi lên đến 90% thu hoạch”[27, tr.
Tình cảnh khốn khổ 10 và bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù bọn thực dân đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do. Giai cấp công nhân. Vào cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản hoàn thành quá trình xâm lƣợc nƣớc ta, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa. Dƣới tác động của các cuộc khaithác thuộc địa, giai cấp công nhân ở nƣớc ta đã ra đời.