Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC 1. Khái quát cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới và Việt Nam có nhiều chuyển biến phức tạp, phản ánh chân thực xu thế thời đại và để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử nhân loại. Thực tiễn đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiến trình phát triển lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng mà cụ thể là tư tưởng về giáo dục của Người.
Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới và hoàn cảnh cách mạng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một trong những nhân tố đầu tiên tác động hình thành tư tưởng về giáo dục của Hồ Chí Minh. Doãn Chính (2013) đã phát biểu rằng: “Trong đó, nổi bật nhất là sự cai trị và bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với nhân dân lao động các nước chính quốc và sự xâm lược, nô dịch, áp bức đối với nhân dân các nước thuộc địa trên thế giới” (tr. Thực tiễn lịch sử, xã hội trên thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Từ cuối thế kỷ XIX tốc độ phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã làm cho chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và có nhiều bước tiến mới trên các lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và khoa học.
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy mạnh mẽ nền sản xuất xã hội phát triển, ảnh hưởng dây chuyền đến tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Việc áp dụng các nghiên cứu khoa học, cụ thể là thành công của Cuộc cách mạng công nghiệp với đặc điểm chuyển từ nền sản xuất thủ công bằng lao động cơ giới sang nền sản xuất đại công nghiệp đã đưa nền sản xuất nói riêng và nền kinh tế - xã hội nói chung phát triển lên 10 đỉnh cao. Nhờ đó mà con người tiếp thu nhiều tri thức, trình độ nhận thức sâu sắc hơn và xác định rõ vai trò của chính mình trong thế giới. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp phát triển nhanh chóng đã dẫn đến tình trạng phát triển không đồng đều, trở thành nguồn gốc của sự tranh chấp quốc tế về thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc.
Sự bóc lột, thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Từ đó bùng nổ cuộc khủng hoảng kinh tế (1900-1903), tiếp nối nhân loại bước vào cuộc đại chiến thứ nhất hay còn gọi là Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918). Với mục đích cướp bóc và thống trị cả về tài chính lẫn thuộc địa đã gây ra những hậu quả đau thương cho nhân dân các nước, là cơ sở cho phong trào đấu tranh ở nhiều quốc gia nói chung và các dân tộc thuộc địa nói riêng phát triển mạnh mẽ. Trong xã hội bắt đầu xuất hiện nhiều mâu thuẫn gay gắt mà cơ bản nhất mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
Bên cạnh đó, đội ngũ công nhân nhanh chóng phát triển về số lượng, trở thành lực lượng quan trọng và đại diện cho lực lượng sản xuất mới trong công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản; yêu cầu bức thiết đặt ra là phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng cho giai cấp công nhân. Trước hoàn cảnh đó Chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển trở thành chủ nghĩa Mác - Lênin đã dẫn dắt giai cấp công nhân đến thắng lợi dưới sự lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức, bóc lột. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lôi cuốn quần chúng nhân dân và cả những phần tử ưu tú, tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản trong đó có Việt Nam.
Từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu nước và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Hơn thế, quá trình xâm lược của chủ nghĩa tư bản đã biến các dân tộc độc lập thành các dân tộc phụ thuộc, để bảo vệ độc lập dân tộc buộc các dân tộc phải 11 đứng lên đấu tranh hình thành nên phong trào giải phóng dân tộc. Các phong trào giải phóng dân tộc vào những năm đầu thế kỷ XX diễn ra như một xu thế thời đại có tính chất đa dạng phong phú với quy mô rộng khắp thế giới, được tổ chức ở nhiều thời điểm, theo nhiều khuynh hướng và chủ yếu dưới hai hình thức chính là đấu tranh vũ trang và đấu tranh hòa bình. Tiêu biểu là các phong trào góp phần thay đổi xã hội ở Trung Quốc vào thời đại Mãn Thanh suy thoái, biến thành nước thuộc địa nửa phong kiến trước sự đối lập giữa chế độ phong kiến và các nước đế quốc Anh, Pháp, Nhật, như: Phong trào thái bình thiên quốc của Hồng Tú Toàn (1814-1864), Cuộc chính biến “Bách nhật duy tân” của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu,… Cuộc cách mạng Tân Hợi (10/1911) do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, với cương lĩnh đưa ra dựa trên học thuyết Tam dân mang màu sắc cách mạng dân chủ tư sản đã thành công trong việc lật đổ chế độ phong kiến và mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển; thu hút sự quan tâm của nhiều người yêu nước Việt Nam.
Cùng với đó, triết lý đấu tranh “Bất bạo động” của vị lãnh tụ tinh thần Gandi ở Ấn Độ cũng là một phong trào giải phóng dân tộc với ý thức hệ tư sản nhận được nhiều sự chú ý. Điểm giống nhau của các phong trào trên là đều có mục đích tương đối rõ ràng, hướng đến lật đổ chế độ phong kiến, xây dựng xã hội mới mang tính chất tiên tiến bình đẳng và cải cách trên mọi lĩnh vực, không còn tình trạng áp bức bóc lột, xã hội được quản lý bằng luật pháp. Mặc dù các phong trào giải phóng diễn ra bằng nhiều hình thức và đạt được những thành công nhất định trong cải cách xã hội nhưng kết quả cuối cùng đều thất bại và chưa triệt để. Nguyên nhân phần lớn do những người lãnh đạo đều xuất thân từ địa chủ phong kiến hoặc thuộc giai cấp tư sản dân tộc, chưa lựa chọn con đường cách mạng phù hợp, phải chịu tác động gay gắt bởi sự đàn áp của lực lượng chính quốc và quan trọng nhất là chưa nhận thức được kẻ thù chính lúc bấy giờ.
Cho đến năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi như bước chuyển thời đại, đánh dấu sự thành công của con đường cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới và được nhận định là cuộc cách mạng triệt để nhất. Chủ nghĩa 12 Mác - Lênin không còn là “bóng ma ám ảnh Châu Âu”, từ lý luận khoa học đã được hiện thực hóa sinh động, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân lan rộng mở ra một thời đại mới “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Đối với nhiều quốc gia trên thế giới và các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười là bước tiến vững chắc phá tan xiềng xích nô lệ, giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột. Cuộc cách mạng này thức tỉnh, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời nhiều Đảng Cộng sản như: Đảng Cộng sản Đức (1919), Đảng Cộng sản Hungari (1918), Đảng Cộng sản Pháp (1920), Đảng Cộng sản Inđônêxia (1920), Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921), Đảng nhân dân cách mạng Mông Cổ (1921), Đảng Cộng sản Ấn Độ Mácxít (1925),… Ðánh giá về tầm vóc lịch sử thế giới, ý nghĩa quốc tế và thời đại của Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh (2011l) đã viết: “Cách mạng Tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng.
Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay. Cách mạng Tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” (tr. Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập với mong muốn thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển. Tiếp đó, Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.Lênin được công bố tại Đại hội II Quốc tế cộng sản vào năm 1920 đã mở ra con đường giải phóng, phương hướng đấu tranh cho các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản.
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng, với Cách mạng Tháng Mười, chính sách giáo dục Nhà nước Xô viết đã tạo ra những người con của cách mạng có nhận thức đầy đủ và sâu sắc về chủ nghĩa anh hùng, tinh thần hy sinh, lòng dũng cảm, tình yêu Tổ quốc và lòng trung thành với đất nước. Thực tiễn sinh động trên thế giới có ảnh hưởng sâu sắc đến quốc gia Việt Nam, giữ vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và sự ra đời Đảng Cộng sản 13 Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc không chỉ đánh giá cao sự kiện Quốc tế Cộng sản ra đời đối với phong trào cách mạng thế giới, mà còn nhấn mạnh vai trò của tổ chức này đối với cách mạng Việt Nam: “Xem những việc ấy thì đủ biết rằng An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr. Thực tiễn lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Việt Nam - một quốc gia nhỏ bé nhưng vô cùng kiên cường bất khuất, hòa cùng những khát vọng chân chính của các dân tộc bị áp bức cũng mong muốn giành được nền độc lập thực sự, nhân dân được tự do bình đẳng.