Chương 1 trình bày tong quan vé nội dung nghiên cứu bao gồm tầm quan trọng của mối liên kết giữa doanh nghiệp và nhà trường trong nén kinh tế hiện nay, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2 nhằm mục đích tìm hiểu cơ sở lý thuyết về mối quan hệ hop tác này. Chương gồm ba phan chính, (1) một số khái niệm cơ bản, (2) tìm hiểu các nghiên cứu đã có trước đây: các hình thức liên kết, những nhân tố thúc đây và kìm hãm, kết quả doanh nghiệp dat được từ hợp tác này để đưa ra các giả thuyết, và (3) mô hình nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản Tong quan về quan hệ hợp tác nhà trường — doanh nghiệp Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà trường là một nhánh liên kết trong tam giác liên kết doanh nghiệp — trường — chính phủ.
Trong đó, hai đối tác trực tiếp là doanh nghiệp và nhà trường, còn chính phủ chịu trách nhiệm tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho quan hệ này phát triển thông qua hệ thống chính sách. luật lệ và tài chính. Tam giác liên kết này được phân tầng thành nhiều cấp độ khác nhau tùy thuộc vào mức độ phát triển, lịch sử và đặc thù của từng quốc gia (Etzkowitz va cong su, 1998; Senker, 1995). Những hoạt động hỗ trợ, củng có mỗi quan hệ hop tác doanh nghiệp - nhà trường Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Tiếp thị Khoa học với Doanh nghiệp tại Đức qua bài tong thuat cua Pham Thi Ly (2012), bốn cột tru chính ảnh hưởng vô cùng to lớn đến phạm vi và mức độ phát triển của mối quan hệ này được cấu thành bởi: (i) các hành động, (ii) cơ chế và cách tiếp cận, (iii) chiến lược và (iv) các điều kiện khung.
Bốn cột trụ này đưa ra những điểm chuẩn để cân nhac các hoạt động nhăm giảm thiêu các trở ngại, gia tăng các động lực, hiéu rõ các nhân tố, nhận thức được lợi ích và kích thích các hình thức hợp tác khác nhau giữa hai đối tác. Andresen và cộng sự (2007) cho rằng kết quả đạt được từ hoạt động liên kết này phụ thuộc vào ba yếu tố: môi trường kinh doanh, kế hoạch kinh doanh va kha năng quản lý. Kết quả đạt được từ mối quan hệ hợp tác doanh nghiệp — nhà trường Đó là những lợi ích cả hai bên nhận được từ mối quan hệ hợp tác này. Lawrence Dooley và David Kirk (2007); Malik và cộng sự (2011); Trung tâm Nghiên cứu Tiếp thị Khoa học với Doanh nghiệp tại Đức qua bài tổng thuật của Phạm Thị Ly (2012) đã đưa ra những lợi ích cho trường, giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên; cho doanh nghiệp và cho xã hội như sau: Lợi ích cho doanh nghiệp: có nguồn nhân lực được đảo tạo tốt, tiết kiệm được thời gian, chi phí trong quá trình đào tạo do đã “đặt hang” với nhà trường để có được các cán bộ phù hợp với chuyên môn, nhu cầu phát triển của doanh nghiệp; tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới cải thiện hiệu suất kinh doanh, từ đó tạo thu nhập tốt hơn cho nhân viên và nâng cao doanh thu cho doanh nghiệp.
Sự chuyển giao công nghệ góp phần tăng khả năng khám phá các vật liệu mới, ứng dụng phát minh, sáng chế vảo trong sản xuất và các dịch vụ tư vấn. Lợi ích cho các trường: thực hiện được mục tiêu, sứ mạng của nhà trường, tăng cường hoạt động nghiên cứu nhờ có các nguồn ngân sách bồ sung, tạo ra thu nhập nhờ chuyền giao công nghệ. Dựa vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp, nhà trường sẽ dự báo được nhu cầu về số lượng, loại lao động cần thiết của doanh nghiệp, do đó nhà trường tính toán được quy mô, cơ cau ngành nghề, trình độ dao tạo cho hợp lý. Lợi ích cho giảng viên, nghiên cứu viên: tăng cường uy tín học thuật trong lĩnh vực chuyên môn, có thêm nguồn tài chính cho nghiên cứu, tăng cường cơ hội xúc tiễn việc làm, nâng cao vị thế bản thân trong nhà trường.
Tham gia học tập với các tô chức bên ngoài như doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu có thê đi đúng với trọng tâm nghiên cứu đáp ứng nhu cầu thực tế, tăng khả năng hỗ trợ công việc trong tương lai và thương mại hóa các kết quả của họ. Lợi ích cho sinh viên: có điều kiện tiếp xúc với môi trường thực té, nang cao kinh nghiệm học tập của sinh viên, phát triển các kỹ năng mềm, cải thiện việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, có các nguén hỗ trợ học bồng. Lợi ích cho xã hội: tăng cường việc làm địa phương, mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp địa phương, tăng GDP của địa phương, tạo ra nhiều lợi ích xã hội, nâng cao năng suất trong khu vực. Một cách xa hơn, những sản phẩm mà quan hệ nhà trường và doanh nghiệp tạo ra tác động đến phương thức, cách thức sản xuất ma xã hội đang vận hành.
Vốn tri thức công nghệ chuyền đối nền kinh tế dựa vào công nghiệp chế tạo sang nền kinh tế tri thức dựa vào sáng tạo. Các nghiên cứu trước có liên quan 2. Các hình thức liên kết: Ba nhóm của hoạt động hoặc phương thức liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp có thể được xác định, tương ứng với ba nhiệm vụ rõ ràng: hoạt động liên quan đến đảo tạo và giáo dục; hoạt động cung cấp dịch vụ và tư vẫn; hoạt động nghiên cứu. Theo truyền thông, cơ chế chính thông qua việc chuyển giao các nguồn tài nguyên giáo dục cho sản xuất khu vực đó là các liên lạc cá nhân.
Các cơ chế chính thức đã tăng lên nhanh chóng chủ yếu ở các nước phát triển, bao gồm trung tâm đào tạo, các đơn vị tư vấn, các phòng thí nghiệm nghiên cứu, công viên và vườn ươm khoa học, và hội đồng công nghệ (Brimble & Sripaipan, 1996). Như nhiều tác giả có lưu ý (Souder, W.Alam và cộng sự, 2003) liên kết giữa doanh nghiệp và trường đại học được thực hiện qua việc doanh nghiệp nhận sinh viên thực tập, trao học bong cho sinh viên, tai trợ các nghiên cứu của nhà trường. Doanh nghiệp va nhà trường tổ chức các hội thảo giới thiệu công nghệ mới. Nhà trường tham gia tư van, đánh giá về nguyên vật liệu hoặc toàn bộ hệ thống sản xuất cho doanh nghiệp.
Ở mức độ đại học, có các mối quan hệ chính thức và không chính thức giữa các tố chức, doanh nghiệp và cá nhân (Segarra-Blasco và Arauzo-Carod, 2008; Grimpe va Fier, 2010). Các loại khác nhau của việc chuyền giao kiến thức quá trình đòi hỏi hình thức khác nhau trong việc thỏa thuận giữa trường đại học và ngành công nghiệp để làm cho các quá trình chuyển giao hiệu quả hơn (D’Este và Patel, 2007). Ngoài ra, theo nghiên cứu của Schartinger và các cộng sự (2001), các tương tác giữa doanh nghiệp và nhà trường gồm có thỏa thuận chính thức (liên quan đến hợp đồng giữa các trường đại học và các nhà nghiên cứu ngành công nghiệp) và các thỏa thuận không chính thức (ví dụ: các cuộc họp và hội nghị). Chúng được phan loại theo việc triển khai nguồn lực, thời gian và các thỏa thuận được ký chính thức.
D’Este và Patel (2007) phân chia các tương tác giữa doanh nghiệp và trường đại học thành 5 loại. Loại đầu tiên là doanh nghiệp tài trợ các cuộc họp, hội nghị, được nhóm lại với nhau như đại diện cho các mối quan hệ cá nhân không chính thức (tương tác giữa các nhà nghiên cứu của trường đại học và các học viên doanh nghiệp mà không liên quan đến bất kỳ hợp đồng chính thức nào). Loại thứ hai là tư vấn và hợp đồng nghiên cứu, đại diện là các thỏa thuận được ủy quyền và các nghiên cứu mục tiêu giữa các doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu. Đây là các thỏa thuận chính thức và mục tiêu cụ thể được đưa ra ngay phần đầu của hợp đồng.
Loại thứ ba bao gồm việc tạo ra các công ty mới và cơ sở vật chất mới với nguồn vốn của doanh nghiệp (công ty spin-off). Loại thứ tu tập trung vào các mối quan hệ đảo tạo. Các trường đại học đảo tạo sinh viên hoặc doanh nghiệp băng cách cho nhân viên công ty tham gia vào các khóa học. Loại thứ năm là tham gia nghiên cứu bằng các thỏa thuận nghiên cứu chính thức.
Thuật ngữ “spin-off” nghĩa là các nhà khoa học lập ra doanh nghiệp dé triển khai ý tưởng khoa học của mình vào sản xuất. Từ kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học muốn ứng dụng vào việc kinh doanh, tạo nên dự án đầu tư và thành lập doanh nghiệp. Chúng bao gồm các phòng thí nghiệm R&D thuộc chính phủ, trường dai 10 học, trung tâm nghiên cứu cua trường dai hoc va tổ chức R&D của tư nhân (O'Shea va cộng sự, 2008). Quá trình liên lac cá nhân có thé được thực hiện thông qua các cuộc họp thường xuyên tại các hội nghị, hội thảo, cộng đồng mạng với cộng đồng khoa học hoặc thông qua các thỏa thuận chính thức như hợp đồng tư vấn, dự án nghiên cứu và hop đồng nghiên cứu.
Lawrence Dooley và David Kirk (2007), Aldo Geuna và các cộng sự (2002) cho răng các kết quả nghiên cứu hữu ích tại trường có thể được thương mại hóa qua hình thức chuyển giao li-xăng cho doanh nghiệp, mang lại nguồn thu nhập cho trường. Ngoài ra, trường còn đóng vai trò trung gian giới thiệu công nghệ mới hoặc bán li-xăng công nghệ cho doanh nghiệp. Các chương trình, dự án cá nhân cho phép doanh nghiệp có thể truy cập vào kiến thức có giá trị, có tiềm năng cao từ việc ký kết hợp đồng với các nhà nghiên cứu của các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học. Những chương trình này có mục tiêu kép là nâng cao hiệu quả của hoạt động đổi mới cho doanh nghiệp bang cách tăng dan việc đối mới quá trình đầu vào và đầu ra (Herrera và cộng sự, 2010).
Công viên khoa học (còn được gọi là công viên nghiên cứu) đâu tiên có nguôn gốc từ các nước phương Tây, chăng hạn như Mỹ và Vương quốc Anh, và thường liên kết với học viện hay tổ chức nghiên cứu. Các công viên này cung cấp một môi trường hợp tác cùng có lợi cho việc nghiên cứu và phát triển giữa người thuê trong công viên và giới học viện. Các công viên như vậy được coi là một mồ hình cho việc thúc day doi mới, kinh doanh, phát triển của tri thức và làm tăng trưởng kinh tế trong lĩnh vực của họ (Ratinho va Henriques, 2010). Lay cảm hứng từ sự thành công của Thung lũng Silicon của California, nhiều nước đang phát triển đã thành lập công viên khoa học như một chiến lược quan trọng cho việc thúc đây các ngành công nghiệp công nghệ cao.