mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, trong phần nội dung chính của luận văn gồm 2 chƣơng và 5 tiết 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG GIÁO VÀ CÁC SÁCH PHÚC ÂM 1.1 Khái lƣợc chung về Đạo đức tôn giáo nói chung và đạo đức Công giáo nói riêng 1. Khái lược chung một số vấn đề lý luận về đạo đức tôn giáo Tôn giáo là thực thể xã hội, bao gồm: Ý thức tôn giáo, hệ thống nghi lễ thờ cúng và các thiết chế tổ chức. Nhìn sâu ở phần ý thức tôn giáo có nhiều cấp độ, chủ yếu là ở hai dạng thức: hệ ý thức tôn giáo và đời sống tâm lý tôn giáo.
Tìm hiểu yếu tố ý thức hệ tôn giáo với tƣ cách là một dạng thức “hình thái ý thức xã hội”, nó xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài ngƣời. Trong quá trình tồn tại và phát triển, ý thức tôn giáo luôn có sự tác động ảnh hƣởng biện chứng đến đời sống chính trị, tƣ tƣởng, văn hóa xã hội và đến tâm lý, đạo đức, lối sống của nhiều dân tộc. Ý thức tôn giáo chủ yếu chuyển tải tôn giáo đáp ứng đƣợc nhu cầu “đền bù hƣ ảo” cho một bộ phận quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó chỉnh thể tôn giáo đã mang đến những giá trị đạo đức, văn hóa, nghệ thuật.Chính từ góc nhìn hệ thống chức năng mà có thể nói, tôn giáo ra đời từ cơ sở văn hóa, những giá trị văn hóa đó và đồng thời có vai trò tác động trở lại tƣơn đối độc lập, đã góp phần khẳng định sự tồn tại của tôn giáo trong xã hội ngày nay là đảm nhận một hệ thống các vai trò nhất định.
Đây là cơ sở lý thuyết để chúng tôi làm căn cứ phân tích về chủ đề đạo đức Công giáo trong sách Phúc Âm. Tuy vậy, xung quanh vấn đề đạo đức tôn giáo cho tới nay vẫn còn rất nhiều những quan điểm khác nhau đƣợc đƣa ra. Có quan điểm tả khuynh cho rằng, tôn giáo không có đạo đức riêng, đạo đức tôn giáo chỉ là sự vay mƣợn rồi “chƣng cất” khái quát thành đạo đức chung của nhân loại. Lập luận đƣa ra cho sự giải thích này là ở chỗ cho rằng, loài ngƣời vốn đã có đời 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống đạo đức, có trƣớc tôn giáo.
Rằng khi con ngƣời chƣa có ý niệm gì về giáo lý, về niềm tin, sự thờ cúng tôn giáo thì trong thực tế đời sống họ đã có những quy ƣớc, chuẩn mực trong cƣ xử, trong quan hệ giữa con ngƣời với nhau – đó chính là đạo đức mà về sau các tôn giáo mới có. Bên cạnh đó, những ngƣời theo quan niệm này cũng nhận thấy rằng các các giá trị, chuẩn mực trong tôn giáo là những giá trị, chuẩn mực của đạo đức thế tục đã đƣợc “thiêng” hoá từ thực tại. Ý kiến khác lại cho rằng, trong Thần học các tôn giáo có hệ đạo đức thiêng liêng riêng. Và đạo đức tôn giáo là thứ đạo đức hoàn toàn khác biệt và thậm chí đối lập với các loại mức độ đạo đức trần thế.
Rồi có hai loại ý kiến cực đoan: Một, cho rằng đạo đức tôn giáo hoàn toàn mang tính áp đặt, duy tâm, yếu thế, bi quan. Hai, có ý kiến trái chiều, ngƣợc lại rằng, chỉ có tôn giáo mới đem lại cho con ngƣời đạo đức đích thực, thần thánh thiêng liêng. Vì vậy, đạo đức tôn giáo là cao quý, duy nhất, tuyệt đối mọi ngƣời đều cần tuân thủ, hƣớng theo. Rõ ràng qua thực tiễn đa dạng của đời sống đạo đức và tôn giáo phong phú cho ta thấy rằng những ý kiến nhƣ vậy về đạo đức tôn giáo còn mang tính phiến diện, chƣa chính xác.
Để hiểu đạo đạo đức tôn giáo một cách toàn diện, khách quan cần có nền tảng xuất phát từ những tiếp cận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Chúng ta cần thấy mối quan hệ đặc điểm phản ánh của ý thức xã hội, sự tác động lẫn nhau giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội. Đồng thời chú ý đến mối quan hệ độc lập nhất định cũng nhƣ sự tác động của các hình thái ý thức xã hội qua lại với nhau trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội.chứ không thể giáo điều, dập khuôn [86, tr. Trong tiến trình vận động phát triển của lịch sử, các hình thái ý thức xã hội cũng có sự giao lƣu, kế thừa và ảnh hƣởng lẫn nhau.
Qua đó thấy đƣợc đạo đức tôn giáo không bao giờ có thể tồn tại biệt lập với các hình thái ý 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức khác nhƣ thẩm mỹ, đạo đức, chính trị. mà có sự tác động tƣơng hỗ của các hình thái ý thức xã hội khác mà suy cho đến cùng đều bị chi phối của tồn tại xã hội mang tính lịch sử cụ thể. Đây là quy luật phát triển khách quan. Vì vậy nên đạo đức tôn giáo bao hàm trong nó cả nội dung đạo đức thông thƣờng và cả yếu tố “thiêng” không thể chia tách.
Ý thức tôn giáo phản ánh một cách “hƣ ảo” hiện thực khách quan vào đầu óc con ngƣời, còn đạo đức tôn giáo là tổng hợp những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội và cả yếu tố thiêng hóa, mà nhờ đó con ngƣời có đức tin, niềm tin tôn giáo dựa vào đó điều chỉnh hành vi của mình theo cách riêng. Trong ý thức Công giáo chuyển tải chủ yếu bằng Kinh Thánh cũng nhƣ của bất cứ một tôn giáo nào, cũng chứa đựng hệ thống chuẩn mực và giá trị đạo đức nhƣ vậy, nhằm điều chỉnh hành vi của các tín đồ. Trong đó, giáo lý của các tôn giáo đều đề cập đậm nhạt dần đến những vấn đề đạo đức hiện thực, là những quan niệm phản ánh mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thiên nhiên, giữa con ngƣời với xã hội,. Hầu hết dù có đặc điểm phản ánh “hƣ ảo” không trực tiếp mà đã thiêng hóa nên đạo đức tôn giáo đều khẳng định giá trị tối cao của niềm tin vào các lực lƣợng thiêng, siêu nhiên nhƣ Thần, Thánh, Thiên Chúa, Thƣợng Đế,.
Và đạo đức Công giáo trong Kinh Thánh nói chung, trong Phúc Âm nói riêng coi đó là chuẩn mực cao nhất của các giá trị khác về cách ứng xử riêng cho con ngƣời. Từ niềm tin tôn giáo là “hạt nhân” sẽ phát sinh tạo thành hệ thống những quy định, quy phạm đạo đức khác mà các tín đồ của từng tôn giáo luôn phải tuân thủ theo. Đó là vị trí tối thƣợng của niềm tin tôn giáo trong hệ thống đạo đức tôn giáo. Mặc dù, nội dung đạo đức tôn giáo bắt nguồn từ nhu cầu thực tại chính đáng của con ngƣời là luôn hƣớng đến điều thiện, có tinh thần nhân ái, hiếu thảo với cha mẹ,.
nhƣng đều có lớp vỏ thần bí là những điều Thần nhập, Mặc khải,… Nguyễn Hữu Vui đã khẳng định: “Trong hệ thống những giá trị chuẩn mực tôn giáo, bên cạnh những điều khuyên răn, cấm đoán tạo nên nội dung riêng của đạo đức tôn giáo, còn có 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những điều khuyên răn, cấm đoán không hề có nội dung tôn giáo, mà là biểu hiện các mối quan hệ thuần túy xã hội” [86, tr. Đặc trƣng đạo đức tôn giáo đƣợc hình thành hệ thống trên hạt nhân cơ sở niềm tin vào Thƣợng Đế, Thiên Chúa,… nhƣng lại gắn với đời sống thế tục và lồng ghép với hệ thống tƣ tƣởng tôn giáo, bao gồm nhiều yếu tố, nhiều học thuyết nhƣ: triết học, kinh tế, đạo đức. Trong đó, Thần học đƣợc ghi chép ở Kinh Thánh bao giờ cũng chiếm vị trí trung tâm. Và tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử các thời đoạn của một tôn giáo cụ thể mà có thể kết cấu và nội dung thần học có thể biến đổi khác nhau, đƣợc giải thích khác nhau.
Tuy nhiên, với hạt nhân niềm tin tôn giáo trong thần học tôn giáo tất cả đều chú trọng vào việc thuyết minh sự tồn tại của Đấng tối cao, Thiên Chúa, Thƣợng Đế. Thuyết minh về tính thiêng liêng của Kinh điển, Kinh Thánh và những lời răn dạy về đạo đức tôn giáo. Tôn giáo đã đổ khuôn tạo ra một hệ thống chuẩn mực và giá trị tinh thần; Tiếp theo, chúng đƣợc các tổ chức tôn giáo bảo vệ, phê chuẩn, truyền bá. Điều đó là toàn bộ chuẩn mực đối với giáo dân.
Cơ sở xuyên thấu trong những chuẩn mực đạo đức của tôn giáo đó là, những quy định về niềm tin với các lực lƣợng thiêng nhƣ là Thiên Chúa, Thƣợng Đế, có tính bao trùm tối thƣợng. Còn phƣơng cách ứng xử đạo đức của con ngƣời đƣợc coi chỉ biểu hiện nhƣ sự cụ thể hóa của đức tin tôn giáo. Niềm tin thần thánh khiến cho đức tin tôn giáo có đƣợc phƣơng thức thể hiện trong hệ thống nghi lễ, sinh hoạt tôn giáo hiện thực, để nó từ chỗ siêu việt, siêu nhiên đã không trở nên mơ hồ, siêu thực. Những quy phạm, quy định ứng xử đạo đức cụ thể lúc đó đã đƣợc bảo vệ bởi đức tin thiêng liêng vô hình, nên không hoàn toàn bị trần tục hóa.
Nó đã đƣợc mang dáng vẻ lấp lánh, thiêng hóa, tỏa hào quang hấp dẫn và mạnh mẽ hơn là khi chƣa mang dáng vẻ đạo đức tôn giáo. Cần chú ý đặc điểm quan trọng khác của đạo đức tôn giáo là nó đƣợc tiếp tục thiêng hóa, nên thực hiện một cách hoàn toàn tự giác dựa trên cơ sở 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niềm tin tôn giáo của các tín đồ. Đạo đức tôn giáo có hệ thống hình thành trên cơ sở niềm tin vào cái siêu nhiên nên các tín đồ thực hành các chuẩn mực đạo đức một cách rất tự nguyện, tự giác, có tính thƣờng xuyên, dƣới sự kiểm soát của lƣơng tâm và cả thiết chế tổ chức tôn giáo. Đạo đức tôn giáo răn dạy con ngƣời phải giữ vững niềm tin tôn giáo, giữ vững định hƣớng làm những điều tốt đẹp ở cuộc sống này để đƣợc hƣởng hạnh phúc chân chính ngay trong hiện tại và có đƣợc hạnh phúc vĩnh cửu sau này ở Thiên đƣờng hay trong cuộc sống tƣơng lai.
Ngƣời tín đồ theo tôn giáo không phải tùy tiện theo lối sống thế nào cũng đƣợc, mà phải có lối sống theo những lề luật, chuẩn mực đạo đức phù hợp với tín điều của tôn giáo mình theo. Tín đồ hàng ngày giữ vững niềm tin còn bởi thƣờng ngày thực hành lễ nghi và chấp hành giới luật, ràng buộc bởi thiết chế tổ chức tôn giáo.