Chương 1 Bối cảnh lịch sử ra đời đường lối kháng chiến chống mỹ, cứu nước của Đảng ta Để hiểu được bản chất của một cuộc chiến tranh, trước hết chúng ta phải xem xét nó đã diễn ra trong điều kiện chủ quan, khách quan nào.Lênin cũng cho rằng: “Lý luận Mácxít tuyệt đối đòi hỏi người ta, khi phân tích một vấn đề xã hội, phải đặt nó trong một khung cảnh nhất định” [62,tr. Người còn chỉ rõ: “Chỉ có hiểu biết căn bản đặc điểm của thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước nọ”[63, tr. Nắm vững những đặc điểm cơ bản của thời đại trong bối cảnh lịch sử nhất định sẽ là cơ sở để giải quyết đúng đắn những vấn đề của thời đại đồng thời sẽ là căn cứ để giải quyết đúng đắn những vấn đề cụ thể đặt ra cho cách mạng mỗi nước. Đây là điều có ý nghĩa phương pháp luận để phân tích một cuộc chiến tranh, đặc biệt như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Việt Nam, mà quy mô của nó đụng chạm đến toàn bộ các mối quan hệ quốc tế.
Đó còn là cơ sở khách quan để Đảng ta đề ra đường lối, phương pháp, chiến lược và sách lược cách mạng đúng đắn khi tiến hành đấu tranh. Có như vậy chúng ta mới có thể cắt nghĩa được vì sao một nước nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam lại có thể giành được thắng lợi trước một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới. Điều kiện khách quan của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1. Âm mưu của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã trải qua những năm tháng chiến đấu cam go, ác liệt: với một nghìn năm Bắc thuộc, ta đã phải ra sức chiến đấu để bảo vệ nền độc lập chống lại sự đồng hóa của các vương 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triều phong kiến phương Bắc; ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông; gần một trăm năm kháng chiến chống thực dân Pháp; hơn hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nhưng thành quả đạt được trong sự nghiệp kháng chiến chống quân xâm lược đã minh chứng cho tinh thần quật cường của dân tộc ta, vượt mọi khó khăn, gian khổ để giành lấy hoà bình, độc lập cho dân tộc. Khác với các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đó, cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta diễn ra trong điều kiện hoàn toàn khác. Kẻ thù mà nhân dân ta phải đương đầu trong cuộc chiến này là một “đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm, hiếu chiến nhất”; có trong tay chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Nếu so về thời gian thì cuộc chiến này không dài bằng các cuộc chiến tranh trước đó nhưng so về tương quan lực lượng thì đây là cuộc chiến tranh có “một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta về phương thức sản xuất cũng như tiềm lực kinh tế, quân sự”[7, tr.
Về mặt kinh tế: Do có sự tính toán khôn khéo, Mỹ đã tham gia chiến tranh thế giới thứ hai nhưng không những không bị chiến tranh tàn phá như các nước khác mà còn thu về cho mình một nguồn lợi khổng lồ nhờ buôn bán vũ khí. Vì thế, Mỹ đã phát triển mạnh mẽ và trở thành đế quốc giàu có nhất thể giới, chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới tư bản. Mỹ có một nền công nghiệp và nông nghiệp phát triển cao. Sản lượng công nghiệp Mỹ chiếm quá nửa tổng sản lượng công nghiệp của thế giới tư bản (56,4% năm 1948).
Sản lượng nông nghiệp cũng gấp hai lần sản lượng của Anh, Pháp, Cộng hoà liên bang Đức, Italia, Nhật cộng lại (1949) [103, tr. Về tài chính, Mỹ có khối lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới (gần 25 tỷ đôla năm 1949, chiếm 3/4 lượng vàng của thế giới tư bản). Mỹ đã trở thành chủ nợ duy 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất trên thế giới, ngay cả các chủ nợ trước kia của Mỹ như Anh, Pháp cũng trở thành con nợ của Mỹ. Nhằm thiết lập sự thống trị độc tôn của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới, Mỹ đã tiến hành một chiến lược toàn diện bao gồm các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.
Để thi hành chính sách bành trướng, đế quốc Mỹ lợi dụng tình cảnh các nước tư bản bi suy yếu trong chiến tranh, chưa kịp hồi phục, đã thông qua chiêu bài viện trợ kinh tế, quân sự khống chế các nước đó, đẩy các nước này xuống vai trò phụ thuộc Mỹ thậm chí làm tay sai thực hiện một số chủ trương, chính sách của Mỹ. Về mặt quân sự: Mỹ đã ráo riết chạy đua vũ trang, phát triển vũ khí hạt nhân, thiết lập các khối liên minh quân sự xâm lược như NATO ở châu Âu, SEATO ở châu á, ANZUS ở châu Đại Dương, CENTO và ký kết hàng loạt hiệp ước quân sự tay đôi với nhiều nước trên thế giới, ra sức chuẩn bị cho chiến tranh, tiến hành các hoạt động khuynh đảo, lật đổ, đảo chính ở nhiều nơi trên thế giới. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ do có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh mẽ đã trở thành tên đế quốc đầu sỏ trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Với tham vọng bá chủ toàn cầu, Mỹ thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng để tìm cách mở rộng phạm vi thống trị của mình ra các khu vực khác, trở thành kẻ gây chiến, xâm lược quốc tế lớn nhất, đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa thực dân mới và là kẻ thù nguy hiểm nhất của phong trào cách mạng thế giới.
Chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ được hình thành dưới thời tổng thống Tơruman và được điều chỉnh qua các thời tổng thống sau này cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng thời kỳ. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chiến lược này được cấu thành bởi ba bộ phận mà tướng Uy lơ đã nêu ra: - Chúng ta sẵn sàng tham gia trực tiếp hơn và mạnh mẽ hơn vào bất cứ tình huống cân bằng lực lượng nào có khả năng diễn ra ở châu Âu. - Chúng ta là một dân tộc chủ chốt ở phương Tây có khả năng đưa sức mạnh của mình vào Thái Bình dương để tác động tới những diễn biến ở đây. - Nếu có ai đó có ý định ngăn chặn các bước tiến thô bạo sau chiến tranh của sức mạnh cộng sản hoặc những hình thức kín đáo hơn sau này, thì người đó phải là chúng ta[24, tr.
Như vậy, Mỹ đã tự gán cho mình trách nhiệm đứng đầu các nước tư bản chủ nghĩa để bảo vệ “thế giới tự do”, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng thực chất đó chỉ là sự bao biện cho âm mưu bành trướng của mình, như nhà sử học Mỹ G. Côncô đã nhận định: Mỹ hành động không phải vì ý muốn bảo vệ đất nước chống lại bất cứ mối đe doạ cụ thể nào mà vì Mỹ muốn tạo ra ở nơi khác một trật tự có thể kiểm soát được sẵn sàng đáp ứng một cách có lợi các mục tiêu và lợi ích của Mỹ, vượt xa những nhu cầu trong nước. Mỹ tin rằng sức mạnh của Mỹ đủ sức điều chỉnh thế giới và chịu đựng những tổn phí như các cường quốc đế quốc trước đây đã làm để hoàn thành nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế [16, tr.92] Mỹ đề ra 3 mục tiêu cho chiến lược toàn cầu: ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới tiêu diệt hệ thống xã hội chủ nghĩa; uy hiếp, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở các nơi; kìm chế sự phát triển của các nước tư bản đồng minh, lôi kéo các nước khác tham gia vào lực lượng phản động quốc tế do Mỹ cầm đầu.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mục đích chính của chiến lược đó là “nhằm ngăn chặn sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới, nhất là phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô là trụ cột” [24, tr. Và Mỹ đã đề ra một chính sách đối ngoại, được giới chính trị và quân sự Mỹ khái quát bằng cái tên “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản”. Các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ cho rằng nếu để cho chủ nghĩa cộng sản tràn xuống khu vực Đông Nam á thì Mỹ sẽ mất vị trí chiến lược ở Viễn Đông. Nhất là sau khi cách mạng Trung Quốc (1949) thắng lợi, họ càng lo sợ hơn vì nếu mất thêm Đông Nam á thì Nhật Bản không còn lựa chọn nào khác là dung hoà với chủ nghĩa cộng sản ở khu vực này và khi đó, một chuỗi đảo ngoài khơi chạy dài từ Nhật Bản đến Philippin - tuyến phòng thủ đầu tiên của Mỹ ở Thái Bình Dương sẽ lâm nguy.
Mỹ đã đưa ra quyết định chính thức vạch ra một đường ranh giới không cho xuất hiện thêm bất kỳ quốc gia cộng sản mới nào nữa ở châu á. Do đó, Mỹ phải nhanh chóng có những biện pháp xử lý để bảo vệ khu vực “có tầm sinh tử đối với an ninh của Mỹ” [47, tr. Vì vậy, địa bàn Đông Nam á nói chung và Đông Dương nói riêng có vị trí chiến lược quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Đây là nơi có những nguồn lợi rất lớn về kinh tế, quân sự, chính trị mà Mỹ có thể thâu tóm được.
Về mặt kinh tế: Đông Nam á là một vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nhiều loại nguyên liệu mà Mỹ đang thiếu, là thị trường tiêu thu sản phẩm khổng lồ, các nhà lãnh đạo Mỹ không muốn mất quyền lợi ở đây và đã sớm bộc lộ tham vọng muốn độc chiếm Đông Nam á. Đây là một trong những mục tiêu chiến lược của chính sách bành trướng thực dân mới về mặt kinh tế của đế quốc Mỹ. Về mặt quân sự: Đông Nam á là một vùng địa lý chiến lược quan trọng, là ngã ba của đầu mối giao thông giữa các lục địa châu á, châu Phi và châu 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại Dương. Đông Nam á từ lâu đã trở thành một địa bàn chiến lược trong kế hoạch xâm lược của các nước tư bản phương Tây.
Mỹ đã tìm cách hất cẳng Anh, Pháp để chiếm lấy khu vực này. Mỹ đã tập trung nhiều cho việc bố trí lực lượng quân sự ở khu vực này, năm 1967, tổng số quân Mỹ đóng quân ở đây lên tới 850.000 quân trong khi đó ở châu Âu chỉ có 491.000 tên ở đây còn châu Âu là 310.