CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU Từ khóa: tính tự học (learner autonomy),biện pháp nâng cao tính tự học, nguồn học liệu 1. Bối cảnh và cơ sở nghiên cứu Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến trên thế giới. Khoảng 380 triệu người sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ thứ nhất và khoảng hơn hai phần ba con số trên sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ thứ hai. Khoảng một tỷ người trên thế giới đang học tiếng Anh, khoảng một phần ba dân số thế giới đang tiếp xúc với tiếng Anh hàng ngày.
Đến năm 2050 dự báo khoảng một nửa dân số thế giới sẽ sử dụng thành thạo tiếng Anh. [18] Phần trích dẫn ở trên trong một bài báo xuất bản trong tờ tạp chí The Economist có tên gọi “The triumph of English: A world empire by other means” vào năm 2001 đã cho thấy nhu cầu học tiếng Anh là vô cùng lớn. Nhu cầu này có thể được giải thích bởi thế giới đang dần trở nên phẳng, con người ngày càng có mong muốn được di chuyển, được làm việc không bị hạn chế bởi ranh giới địa lý, quốc gia và giao tiếp bằng một ngôn ngữ chung. Từ khi Việt nam áp dụng chính sách mở cửa và hội nhập thế giới, tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ của sự hợp tác, giao thương quốc tế, giao lưu về văn hóa, của khoa học kỹ thuật và là một yếu tố không thể thiếu trong việc phát triển đất nước.
Trong luật Giáo dục được Quốc hội thông qua năm 2005 đã chỉ rõ, ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Ngoại ngữ chính hiện nay chính là tiếng Anh. Theo Đỗ Quang Thịnh (1996) chính sách giảng dạy ngoại ngữ và thái độ, động cơ của người học trở nên cốt yếu trong việc phát triển của quốc gia và của từng cá nhân. Tác giả cũng khẳng định tiếng Anh sẽ giúp cho việc trao đổi và phát triển, đặc biệt ở bậc đào tạo cao đẳng và đại học.
Thế hệ trẻ hiện nay đều nhận thức được tầm quan trọng của việc nắm bắt ngôn ngữ này trong học tập, tìm kiếm việc làm và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp. Tại Việt nam, sau khi Liên xô tan rã, tiếng Anh được giảng dạy chính khóa tại các trường phổ thông như một môn học bắt buộc đối với học sinh, tiếng Anh cũng là môn học nằm trong chương trình đào tạo cho sinh viên không chuyên ngữ tại nhiều 1 trường cao đẳng và đại học. Ở những trường cao đẳng, đại học nơi mà môn tiếng Anh tự tích lũy thì sinh viên phải có các bằng chứng nhận năng lực tiếng Anh khi tốt nghiệp. Sinh viên không chuyên ngữ khi tốt nghiệp cao đẳng, đại học đã học tiếng Anh 7 năm ở phổ thông và học thêm 7 tín chỉ ở cao đẳng hoặc 10 tín chỉ ở bậc đại học.
Nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông đã chọn Tiếng Anh như là chuyên ngành đào tạo cho mình tại các trường cao đẳng và đại học. Sinh viên chuyên ngữ có tổng cộng 10 năm học tiếng Anh ở phổ thông và cao đẳng hoặc 11 năm học tiếng Anh ở phổ thông và đại học. Tuy nhiên, kết quả của việc dạy - học đó vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng.500 lao động đủ mọi lứa tuổi về lợi ích và hạn chế khi Việt Nam chính thức tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cho thấy, một bộ phận người lao động Việt Nam thiếu tự tin khi biết Việt Nam bắt đầu tham gia vào thị trường lao động AEC từ năm 2016. Nguyên nhân được đưa ra là do khả năng ngoại ngữ kém, thiếu kỹ năng đàm phán công bằng về lương bổng với nhà tuyển dụng.
Sự thiếu tự tin này càng thể hiện rõ khi có gần 70% người trong nhóm này cho rằng người lao động Việt Nam không đủ sức cạnh tranh với nhân lực nước ngoài. Bởi bất lợi lớn nhất mà nhiều người đưa ra là có quá nhiều đối thủ cạnh tranh hơn trên thị trường lao động Việt Nam khi họ là những người thông thạo tiếng Anh. [10] Những bất lợi của người lao động Việt nam cũng đã được báo động: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã chính thức ra đời ngày 31/12/2015. Theo đánh giá AEC sẽ đem đến nhiều cơ hội việc làm cho đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đặc biệt người lao động thông thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia lo ngại trình độ tiếng Anh và “kỹ năng mềm” của lao động Việt nam khó có thể cạnh tranh với lao động các nước trong khu vực….[16] Một ví dụ khác minh chứng về khả năng sử dụng ngoại ngữ của sinh viên Việt nam là việc tuyển dụng kỹ sư tin học của tập đoàn Intel tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong số 2000 ứng viên xin việc, chỉ có 40 ứng viên đạt yêu cầu về trình độ tiếng Anh như nhà tuyển dụng yêu cầu (Phan, tr. Rất nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau đều có chung ý kiến, chính khả năng sử dụng tiếng Anh yếu kém đã hạn chế 2 khả năng xin được việc làm của các bạn trẻ Việt nam, giảm khả năng cạnh tranh trong thị trường công việc khi chúng ta hội nhập thế giới. Hoang (2007) (trong Phan, 2015) đã phân sinh viên bậc đại học làm ba nhóm dựa vào động cơ học tiếng Anh của các em.
Nhóm thứ nhất xem tiếng Anh như là một công cụ hữu hiệu cho việc tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp; nhóm thứ hai cần có kiến thức tiếng Anh tốt để tiếp tục học tập ở các bậc cao hơn; nhóm thứ ba, chiếm đa số, đặc biệt là sinh viên không chuyên ngữ, học để chỉ qua các kỳ thi. Tác giả của bài nghiên cứu này, từ thực tế giảng dạy của bản thân, chia sinh viên học ngoại ngữ vào hai nhóm chính dựa vào ý thức học tập của các em. Nhóm một là sinh viên có ý thức tốt đối với việc học tiếng Anh; nhóm hai là những sinh viên không có ý thức hoặc ý thức kém đối với việc học ngôn ngữ này. Trong nhóm thứ nhất, có thể phân ra hai nhóm nhỏ: sinh viên có năng khiếu sinh viên ít có năng khiếu hơn với ngoại ngữ.
Đối với sinh viên ở nhóm này, ngay khi các em đang học năm thứ nhất hay năm thứ hai các em đã tham dự các kỳ thi IELTS để kiểm tra năng lực tiếng Anh của mình. Những em có năng khiếu đạt kết quả rất tốt trong các kỳ thi IELTS: 7.5 và thậm chí gần 9.0; những em ít năng khiếu hơn, ít nhất cũng đạt được 6. Sinh viên ở nhóm thứ hai học tiếng Anh hoàn toàn một cách đối phó. Đây là một cách học thực sự gây ra sự lãng phí về thời gian và về tài chính.
Điều đáng buồn là số sinh viên này chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số sinh viên, không chỉ là sinh viên không chuyên ngữ, mà có cả sinh viên chuyên ngữ. Qua một chương trình thực tế nhỏ về tiếng Anh của Tổ chức Giáo dục Quốc tế Langmaster, có thể dễ dàng nhận ra khá nhiều bạn sinh viên thiếu tự tin về khả năng tiếng Anh của mình và còn lúng túng, rụt rè khi giao tiếp với người nước ngoài. Phần lớn các bạn đều là những sinh viên đến từ các trường đại học có Tiếng Anh là một môn học bắt buộc. Từ đó đã chỉ ra thực trạng của việc học Tiếng Anh không hiệu quả của các bạn trẻ.
[9] Khả năng sử dụng tiếng Anh hạn chế của sinh viên Việt nam đã đặt ra những thách thức không những cho các nhà quản lý giáo dục mà cả chính phủ là cần tìm ra chiến lược đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu về ngoại ngữ ngày càng cao này. 3 Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008- 2020” (gọi tắt là Đề án ngoại ngữ 2020) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ra quyết định vào ngày 30/9/2008. Mục tiêu của đề án là : Năm học 2012-2013, sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng chuyên ngữ tiếng Anh phải đạt trình độ năng lực tiếng Anh bậc 4 và sinh viên đại học chuyên ngữ tiếng Anh phải đạt bậc 5 để được cấp bằng tốt nghiệp. [3] Vào ngày 31/10/2012 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Công văn số 7274 yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học triển khai Đề án Ngoại ngữ 2020 từ năm học 2011 – 2012.
Trong công văn Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cơ sở đào tạo thực hiện một số công việc rất cụ thể như sau: - Thành lập Ban chỉ đạo triển khai Đề án ngoại ngữ Quốc gia 2020 của đơn vị; - Rà soát trình độ năng lực của giảng viên giảng dạy tiếng Anh để từ đó đưa ra kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tuyển dụng đội ngũ giáo viên tiếng Anh cho đơn vị; - Bộ Giáo dục và Đào tạo hỗ trợ kinh phí cho đơn vị trong việc gửi giảng viên cốt cán đi bồi dưỡng chuyên môn ở nước ngoài; - Đơn vị xây dựng và triển khai chương trình dạy tiếng Anh tăng cường cho sinh viên. [7] Tiếp sau công văn số 7274 là một loạt các công văn khác của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ thị về việc thực hiện Đề án Ngoại ngữ quốc gia. Công văn số 3564/BGDĐT-ĐANN ngày 10/7/2014 hướng dẫn triển khai nhiệm vụ bồi dưỡng giáo viên, giảng viên tiếng Anh cốt cán ở trong nước của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 (Đề án NNQG 2020), tiếp theo là công văn 4277 (08/08/2014) yêu cầu các cơ sở đào tạo bậc cao đẳng và đại học, và một số trường phổ thông đang được xây dựng thành trường điển hình về dạy và học ngoại ngữ cử 838 giảng viên và giáo viên tham dự tập huấn để trở thành giảng viên cốt cán trong việc bồi dưỡng tiếng Anh cho giảng viên cấp tiểu học. Đồng thời, việc bồi dưỡng đào tạo để nâng cao năng lực ngôn ngữ cho giảng viên Tiếng Anh tại các cơ sở đào tạo bậc Đại học và Cao đẳng cũng được coi trọng.
Thông tư liên tịch của Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 18/06/2012 về việc hướng dẫn nội dung và mức chi cho Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” chỉ rõ: 4 6.