phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của đề tài gồm các chương như sau: Chương một giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp liên văn hóa, trong đó nhóm tác giả nêu ra các nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước cùng lĩnh vực, nhằm tìm ra hướng đi cụ thể cho đề tài. Nội dung chính của chương hai là các bước cụ thể tiến hành nghiên cứu bao gồm phương pháp nghiên cứu, công cụ nghiên cứu, phân tích và các kết quả vấn đề nghiên cứu. Chương ba tập trung vào việc đưa ra các khuyến nghị phù hợp dựa trên các kết quả nghiên cứu nhằm giúp giảng viên thấy rõ quá trình nâng cao kỹ năng giao tiếp liên văn hóa với sự hỗ trợ của nhà trường và các nguồn lực cần thiết. 9 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG NGOẠI NGỮ TRONG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA 1.1 Văn hóa là gì? Wardhaug (1993) nhìn nhận văn hoá như:.
kĩ năng mà người ta phải có để hoàn thành dược nhiệm vụ của cuộc sống thường nhật; chỉ đối với một số ít người, văn hóa mới đòi hỏi phải có hiểu biết hoặc nhiều về âm nhạc, văn học và nghệ thuật Tylor (1871) phát biếu: Văn hoá, hiểu theo nghĩa rộng mang tinh dân tộc học, là một tống thể phức hợp bao gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp,phong tục cùng bất cứ khá năng và thói quen nào khác mà một con người có dược với tư cách là thành viên của một xã hội. Riddell (1989:1) cho rằng văn hoá bao gồm:. cả cảc khía cạnh của đời sống con người được các thành viên của một xă hội thụ đắc và chia sẻ Văn hoá là tổng thể phức hợp của những đặc tính tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm nổi trội xác định một xã hội hoặc nhóm xã hội. Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn chương,mà còn cả cách thức sống, các quyền cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, các truyền thông và đức tin.
UNESCO (Hội nghị loàn thế giới vể các chính sách văn hóa. Mexico City) Văn hoá của một dân tộc là một tổng thể phức hợp hao gồm những mà dân tộc đó sáng tạo ra và thụ hợp được (cả vật thể và phi vật thể) cùng các cách thức mà dân tộc đó hành xử trong những hoàn cành cụ thể; tổng thể này giúp phân biệt một dân tộc này với một dân tộc khác không chi xét theo tính có hay không của các sản phẩm và hành vi đó, mà còn xét theo cả tính biểu lượng và cách thức biểu hiện của chúng nữa.2 Giao tiếp liên văn hóa là gì, ICC ( năng lực giao tiếp liên văn hóa) là gì? 10 Năm 1954 được coi là năm ra đời của chuyên ngành giao tiếp liên văn hóa, khi xuất hiện cuốn “Văn hóa là giao tiếp, giao tiếp là văn hóa” (Culture is communication and communication is culture”) của hai tác giả E. Thuật ngữ giao tiếp liên văn hóa cũng ra đời từ đó.Hall cho ra đời tiếp cuốn “Ngôn ngữ câm” (The Silent Language”) chứng minh về mối quan hệ khăng khít giữa văn hóa và giao tiếp. Đề xuất của Hall coi văn hóa là giao tiếp, giao tiếp là văn hóa đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi trong giới học thuật tại Mỹ.
Một số tạp chí liên quan đến vấn đề này xuất hiện. Các thuật ngữ “giao thoa văn hóa”, “đa văn hóa”, “sốc văn hóa” (bây giờ người ta hay dùng stress văn hóa) hình thành vào thời gian này. Nhiều trường phái nghiên cứu khác nhau nảy nở. Xét theo tầm quan trọng, Bennett (2004), Fantini (2000), Byram (1997), Guo-Ming Chen & Starosta (1996), Wiseman (2002), Thomas (2007), Deardoff (2004) … , với các cách lập luận khác nhau, đều khẳng định rằng ICC (năng lực giao tiếp liên văn hóa) là ,điều kiện tiên quyết cho các tương tác giữa những người thuộc các nền văn hóa khác nhau.
Xét theo khả năng, các tác giả, với các cách diễn giải khác nhau, đều đồng thuận rằng ICC là khả năng ‘tương tác hiệu quả và phù hợp với các thành viên thuộc các nền văn hóa khác’ (Wiseman, 2002), khả năng ‘dàn xếp các ý nghĩa văn hóa và thực hiện các hành vi giao tiếp hiệu quả, phù hợp’ (Guo-Ming Chen & Starosta, 1996), khả năng ‘từ bỏ loại hình văn hóa dựa trên giá trị […] [để] thích ứng với các chu cảnh văn hóa khác nhau dựa trên các khía cạnh của qui trình nhận thức và siêu nhận thức, của các cơ chế động cơ và của sự thích ứng hành vi’ 1.3 Vai trò của năng lực giao tiếp liên văn hóa trong dạy và học ngoại ngữ Crozet và Liddicoat (1997) đã chỉ ra rằng văn hóa tiềm ẩn trong cách mà ngôn ngữ được sử dụng để tạo ra văn bản, cho dù văn bản đó dưới dạng viết, nghe, nhìn hay nói. Vì vậy, văn hóa có thể được coi là một phần không thể tách rời và đan xen của ngôn ngữ. Hơn nữa, việc học một ngoại ngữ không đơn giản bằng việc chỉ học từ vựng và ngữ pháp để tạo ra các câu chính xác (Liddicoat, 2005). 11 Một người học chỉ chú trọng vào các khía cạnh về mặt ngôn ngữ thì không thể giao tiếp thành công bằng ngoại ngữ đó được và có thể dễ dàng trở thành một người thành thạo trong giao tiếp nhưng đôi khi trở nên “ngốc nghếch” vì nói những câu không thích hợp vào một thời điểm không thích hợp với tình huống văn hóa đó.
Vì lí do đó, văn hóa đã trở thành một phần thiết yếu trong việc học và dạy ngôn ngữ. Trong thế giới toàn cầu hóa, tiếng Anh được sử dụng rộng rãi như một ngôn ngữ toàn cầu trong giao tiếp, đối thoại giữa những người đến từ khắp nơi trên thế giới. Quan trọng hơn nữa, người học tiếng Anh như một ngoại ngữ sử dụng tiếng Anh để giao tiếp với những người đến từ các quốc gia khác chứ không phải giao tiếp với những người đến từ chính quốc gia của họ. Vì vậy, việc hiểu biết sâu sắc nền văn hóa và các mặt xã hội của quốc gia khác là điều cần thiết để giao tiếp liên văn hóa thành công.
Byram (1997) nhấn mạnh rằng mục tiêu dạy tiếng Anh trong thời đại toàn cầu hóa là trau dồi NLGTLVH cho người học để giúp họ trở thành những người giao tiếp liên văn hóa thực thụ. Dựa vào những lí do này, việc tăng cường NLGTLVH cho người học tiếng Anh như một ngoại ngữ ngày càng trở nên quan trọng và nên trở thành một phần thiết yếu trong việc học và giảng dạy ngoại ngữ, bao gồm học và dạy tiếng Anh. Ngôn ngữ bao hàm kiến thức, thế giới quan và hiểu biết về văn hóa của người nói; do đó, rất khó để dạy một ngôn ngữ mà không dạy văn hóa của người nói ngôn ngữ đó (Byram, 1989). Theo đó, người học ngôn ngữ cần hiểu rằng, để giao tiếp hiệu quả, việc sử dụng ngôn ngữ phải được liên kết với các kiến thức, thái độ và hành vi phù hợp với văn hóa.
Điều này đã dẫn đến mối quan tâm lớn về việc khám phá sự giao thoa giữa ngôn ngữ và văn hóa trong nhiều lĩnh vực về ngôn ngữ học (Liddicoat, 2005). Cho đến nay, các học giả đã khẳng định về mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hóa, tầm quan trọng của văn hóa trong giảng dạy ngôn ngữ và sự cần thiết để chuyển sang đường hướng giảng dạy tích hợp giữa ngôn ngữ và văn hóa – giảng dạy ngôn ngữ liên văn hóa (GDNNLVH). GDNNLVH có thể được coi là một cách tiếp cận để phát triển cho người học ngôn ngữ hiểu về ngôn ngữ và văn hóa của họ thông qua sự kết nối với ngôn ngữ và văn hóa khác (Liddicoat, 12 Papademetre, Scarino, & Kohler, 2003). Hơn nữa, GDNNLVH đặt mục tiêu phát triển NLGTLVH cho người học thông qua việc học ngoại ngữ và cách mà ngôn nước họ.
Bằng cách đó, người học có thể giao tiếp thành công và phù hợp với những người đến từ các nền văn hóa khác nhau; đồng thời, giúp nâng cao nhận thức của người học về sự khác biệt văn hóa, từ đó nhìn nhận và đánh giá đúng mực để có thái độ và hành vi thích hợp khi gặp những tình huống khác biệt với văn hóa của đất nước họ.4 Các mô hình năng lực giao tiếp liên văn hóa Theo Byram (1997), để có được một cuộc hội thoại thành công với một người đến từ một nền văn hóa khác khi sử dụng một ngôn ngữ không phải ngôn ngữ mẹ đẻ, người sử dụng ngôn ngữ không chỉ cần có Năng lực giao tiếp (Communicative competence) mà cần phải có Năng lực liên văn hóa (Intercultural competence). Nói một cách ngắn gọn, NLGTLVH là khả năng của một người để giao tiếp thành thạo, tự tin và thích hợp bằng một ngôn ngữ nước ngoài với những người đến từ các nền văn hóa khác (Byram, 1997). Định nghĩa về từng thành tố cấu thành nên NLGTLVH được trình bày chi tiết tại Bảng 1 dưới đây: 13 Sau khi nghiên cứu các mô hình năng lực giao tiếp liên văn hóa, bao gồm một số mô hình tiêu biểu của Bennett (2004), Fantini (2000), Byram (1997), Wiseman (2002), Thomas (2003), Deardorff (2008) và Quang, N. Nhóm tác giả quyết định sử dụng mô hình của Quang, N.
(2017) vào nghiên cứu này, vì trông mô hình này tác giả đã thể hiện rất rõ sự liên hệ uyển chuyển và biện chứng giữa nhận thức, thái độ và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa, đồng thời, 14 chỉ rõ những cách hiện thực hóa kỹ năng trong các thực hành giao tiếp liên văn hóa thực tế trong giảng dạy nói riêng và trong đời sống ngôn ngữ ứng dụng nói chung.5 Kỹ năng giao tiếp liên văn hóa bao gồm những kỹ năng gì Theo cách nhìn nhận của Byram (1997), kỹ năng giao tiếp liên văn hóa bao gồm: Savoir comprendre (Skills of interpreting and relating/ Kĩ năng diễn giải và liên hệ): Khả năng diễn giải một văn kiện hay sự kiện từ một nền văn hóa khác, giải thích và liên hệ nó với các văn kiện hay sự kiện từ văn hóa của chính mình. Savoir apprendre/ faire (Skills of discovery and interaction/ Kĩ năng phát hiện 15 và tương tác): Khả năng thụ đắ kiến thức mới về một nền văn hóa và các hành vi văn hóa cũng như khả năng vận dụng kiến thức, thái độ, kĩ năng dưới áp lực của giao tiếp và tương tác thực tế. Mặt khác, ngữ pháp chức năng được xây dựng dựa trên quan niệm triết học coi ngôn ngữ là một hệ thống giao tiếp của con người.