Chương 1 này sẽ lần lượt giới thiệu những khái niệm căn bản liên quan đến đề tài NC. Trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu về giảng dạy kết hợp trực tiếp và trực tuyến (GD4T) qua cách tiếp cận của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau. Sau đó là các mức độ, mô hình kết hợp 4T. Kết thúc chương này là một số yêu cầu, cách thức xây dựng khóa học 4T cũng như những điểm cần lưu ý khi GD ngoại ngữ theo mô hình 4T.
Giảng dạy kết hợp trực tiếp và trực tuyến (GD4T) là gì? 1. “Blended learning” là gì? “Dạy học kết hợp”, “mô hình kết hợp”, “phương pháp kết hợp” hay “blended learning” là những từ mà chúng ta thường nghe. Vậy, kết hợp ở đây là gắn những yếu tố gì lại với nhau và với liều lượng, mức độ như thế nào? Trước tiên, cần lưu ý một định nghĩa (ĐN) duy nhất, bất di bất dịch về “blended learning” (BL) không tồn tại do khoa học công nghệ luôn biến đổi không ngừng. Ngoài ra, dù đã dụng công tìm hiểu, chúng tôi vẫn chưa xác định được tác giả hay nhóm tác giả nào đã sử dụng thuật ngữ này đầu tiên.
Trong số các tác giả NC về vấn đề này, Singh (2003) kết hợp BL với “programs” (“blended learning programs”) còn Osguthorpe & Graham (2003) thì dùng “blended learning environments”. Theo ba tác giả này, trong chương trình “blended learning”, có sự kết hợp của một hoặc nhiều yếu tố là: trực tuyến/trực tiếp; cá nhân/hợp tác; chính thức/phi chính thức; lý thuyết/thực hành (Singh, 2003; Graham, 2003 trích dẫn bởi Deschryver & Charlier, 2012, tr 6). Osguthorpe & Graham (2003) cho rằng khi dạy học kết hợp cần có sự phối hợp “cân bằng và hài hòa” giữa trực tiếp và trực tuyến nhưng hai tác giả này lại không đưa ra tiêu chí để xác định thế nào là “cân bằng”, “hài hòa” (Charlier và c. 6 Về phần Garrison & Vaughan (2008) và Voos (2003), các nhà nghiên cứu này xem BL là sự kết hợp giữa học tập mặt đối mặt và trực tuyến và “dạng đơn giản nhất là kết hợp giao tiếp đối thoại trực tiếp trên lớp và tương tác gián tiếp qua môi trường mạng nhằm đạt được mục tiêu dạy học”.
Tuy nhiên, đây không phải phép cộng đơn thuần giữa giảng dạy trực tiếp và trực tuyến. Quan điểm sau này cũng trùng khớp với Graham (2004)2 hay Allan (2007)3. Tuy nhiên, thay vì dùng “distributed learning systems” (mô hình sử dụng các thiết bị công nghệ mới) như Graham, Allan gọi thẳng phương pháp còn lại là “e-learning” và nêu cụ thể các phương tiện công nghệ bổ trợ cách lên lớp truyền thống. “Blended” hay “hybrid”? Trong giới nghiên cứu sử dụng tiếng Pháp, để chỉ mô hình tương tự, thuật ngữ được dùng là “dispositif hybride” (DH) hoặc “formation hybride”.
Nếu như nguồn gốc của BL trong tiếng Anh vẫn còn là ẩn số thì Valdès là tác giả đầu tiên sử dụng cụm từ này trong tiếng Pháp vào năm 1995. Theo ông, việc triển khai “formations hybrides” là cần thiết để nhiều đối tượng hơn có thể tiếp cận giáo dục và tiệm cận dần tới mục tiêu lấy người học làm trung tâm. Ngoài ra, trong các chương trình đào tạo “hybrid”, cần triển khai nhiều lộ trình học với nhịp độ phù hợp từng cá nhân, địa điểm học tập đa dạng, nguồn tài liệu không tập trung vào một địa điểm duy nhất và có thể tiếp cận từ xa, tình huống sư phạm phù hợp, công nghệ được ứng dụng đa dạng và hợp lý, phương pháp giáo dục phù hợp với từng cá nhân (trích dẫn bởi Charlier và c. 2 BL is “the combination of instruction from two historically separate models of teaching and learning: traditional F2F learning systems and distributed learning systems.
It also emphasizes the central role of computer-based technologies in blended learning” (Graham, 2004, tr 3). 3 BL is “a mixture of face-to-face and e-learning”, “the use of different internet-based tools including chat rooms, discussion groupsm podcasts and self-assessment tools to support a traditional course” (Allan, 2007, tr 4). 7 Về phần Charlier và c. (2006), các tác giả này xem DH là “thực thể [giáo dục] mới trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai phương thức GD trực tiếp-trực tuyến và công nghệ được vận dụng để hỗ trợ tiến trình dạy-học” 4.
Hơn nữa, ba nhà NC này (cũng như Nissen (2014)) còn nhận thấy so với “blended learning” trong tiếng Anh, “dispositif hybride” mang nghĩa hạn hẹp hơn. Điều này hoàn toàn đúng nếu so sánh với ĐN của Singh (2003), Graham (2003) (1. “Blended learning” là gì?) hay Oliver & Trigwell (2005), Nicolson và c. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với ĐN của Garrison & Vaughan (2008), Voos (2003) hay Graham (2004), Allan (2007), có thể nhận thấy BL và DH chỉ cùng một hiện tượng.
Ngoài ra, cũng trong giới NC sử dụng tiếng Pháp, vào năm 2012, Peraya & Peltier đã đề xuất một ĐN khác về DH. So với ĐN của Charlier và c.s (2006), ĐN này mang tính chất rộng mở hơn. Thật vậy, mặc dầu cả hai đều đề cập đến việc ứng dụng công nghệ nhưng ở ĐN sau, tiềm năng cải tiến phương pháp giảng dạy là mới là đặc tính chủ chốt còn việc chuyển từ trực tiếp sang trực tuyến các nội dung cơ bản chỉ là một phần, dù đóng vai trò quan trọng. Thế nên, có thể nói DH theo cách hiểu của Peraya & Peltier (2012) bao gồm cả mô hình kết hợp trực tiếp- trực tuyến như Charlier và c.s (2006) định nghĩa cũng như nhiều mô hình dạy-học khác đã, đang và sẽ xuất hiện miễn là chúng hướng đến mục tiêu cải tiến phương pháp GD.
Tóm lại, nội hàm của BL hay DH sẽ thay đổi tùy theo tác giả tham chiếu. Do đó, trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi không sử dụng lại thuật ngữ tiếng Anh hay tiếng Pháp mà đề xuất giảng dạy kết hợp trực tiếp và trực tuyến (GD4T) để chỉ việc áp dụng đồng thời cả hai hình thức dạy-học tại lớp truyền thống (trực tiếp) và qua mạng Internet (trực tuyến) nhằm hoàn thành nội dung giảng dạy và đạt mục tiêu giáo dục đề ra. 4 “Il [le dispositif hybride] réfère à la création d’une nouvelle entité dont les caractéristiques majeures sont l’articulation présence-distance et l'intégration des technologies pour soutenir le processus d’enseignement- apprentissage” (Charlier và c. Mức độ GD4T Theo Alammary và c.
Bảng 1 trình bày cụ thể cách thức tiến hành cũng như ưu, nhược điểm của mỗi mức độ GD4T. Từ bảng này, có thể nhận thấy ở hai cấp độ đầu, việc kết hợp 4T chỉ dừng lại ở mức chuyển đổi một vài hoạt động trực tiếp sang trực tuyến; còn đối với cấp cuối cùng, khóa học (KH) phải được xây dựng lại toàn bộ. Để làm được như vậy, ngoài nỗ lực và sáng kiến của người dạy (ND), thiết nghĩ còn cần thêm sự ủng hộ từ phía cơ sở đào tạo (CSĐT), sự giúp đỡ của đội ngũ kỹ thuật. Ngoài ra, người học (NH) cũng nên hưởng ứng, đón nhận cái mới với thái độ cởi mở và góp ý chân thành để KH 4T ngày càng hoàn thiện.
9 Bảng 1: Mức độ GD4T (theo Vũ Thái Giang & Nguyễn Hoài Nam, 2019) Mức Hướng khắc phục Cách tiến hành Ưu điểm Nhược điểm độ Người dạy (ND) Người học (NH) Thấp + sử dụng khóa học (KH) - thuận lợi với ND + có thể gây quá tải cho cả + bước đầu bổ sung một số hoạt truyền thống có sẵn và bổ chưa tự tin, mới làm NH và ND vì: động học tập đơn giản hướng tới sung một số hoạt động theo quen với các công - NH phải tham gia cả các việc phục vụ các ý đồ và phương dạng thức kết hợp. cụ dạy học trực hoạt động học tập trong pháp dạy học cụ thể (không nên + dựa trên nền tảng các bài tuyến, cũng như với dạng thức truyền thống chỉ dừng lại ở việc sử dụng công học (BH) có sẵn, không cần việc thiết kế BH, (vẫn được giữ nguyên) và cụ và công nghệ đơn thuần); phải thay đổi phương pháp khóa học ở dạng kết một số hoạt động ở dạng + tham gia diễn đàn, học hỏi kinh giảng dạy, ND bổ sung một hợp. trực tuyến được bổ sung; nghiệm từ đồng nghiệp hoặc tham số hoạt động ở dạng trực - yêu cầu về mức độ - khối lượng công việc của khảo tư vấn của đội ngũ kỹ thuật tuyến ví dụ yêu cầu NH sử dụng công nghệ ND tăng lên khi phải thực để cảm thấy tự tin hơn và có khả ngoài các hoạt động thường đối với NH không hiện đánh giá các hoạt năng chuyển sang thiết kế khóa kỳ phải nộp bài, thảo luận cao. động bổ sung của NH; học 4T ở mức độ vừa, cao.
+ cả ND lẫn NH không + ND có thể sử dụng một số nhận được hỗ trợ từ đội công cụ ở dạng webquest5, ngũ kỹ thuật chuyên wiki, hay mạng xã hội như nghiệp trong việc triển Facebook để thực hiện các khai hoặc duy trì các công hoạt động. cụ dạy học trực tuyến. 5 “A “WebQuest” is a Constructivist approach to learning (. Students not only collate and organize information they've found on the web, they orient their activities towards a specific goal they've been given, often associated with one or more roles modeled on adult professions" (Benz, 2001 trích dẫn bởi British Council, không ngày).
10 Mức Hướng khắc phục Cách tiến hành Ưu điểm Nhược điểm độ Người dạy (ND) Người học (NH) Vừa + một số hoạt động trong + có thể gây áp lực nhất + trước khi thiết kế, ND phải suy + được huấn BH/KH truyền thống được định đối với ND và NH về nghĩ kỹ để quyết định thay thế luyện để có hiểu thiết kế lại và thay thể bằng mặt kỹ thuật và/hoặc khối hoạt động, nội dung nào ở dạng biết nhất định các hoạt động học tập trong lượng công việc. trực tiếp bằng trực tuyến để hiệu khi sử dụng công môi trường trực tuyến. quả dạy học được tốt hơn; cụ phục vụ cho + số lượng, nội dung không cố việc học tập trực định mà tùy thuộc điều kiện dạy tuyến; học cụ thể như đặc điểm NH, kinh + phản hồi, đánh nghiệm, phong cách dạy học và giá của NH có nguồn học liệu trực tuyến; vai trò quan + các hoạt động dạy học được trọng trong việc thiết kế theo kịch bản dạy học, điều chỉnh thiết gắn với sự thay đổi của phương kế nội dung BH pháp dạy học phù hợp với bối và KH được phù cảnh; hợp hơn. + tìm kiếm và tiếp nhận tư vấn, giúp đỡ của đội ngũ kỹ thuật để người dạy có định hướng lựa chọn công nghệ và công cụ phù hợp 11 Mức Hướng khắc phục Cách tiến hành Ưu điểm Nhược điểm độ Người dạy (ND) Người học (NH) Cao + thiết kế lại toàn bộ KH theo + đòi hỏi ND phải đầu tư + có hiểu biết cao về các công cụ, dạng thức kết hợp.