CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu Theo Ohata (2005) “lo lắng ngôn ngữ” (language anxiety) là một “loại lo lắng đặc biệt liên quan đến việc học ngôn ngữ thứ hai, có thể phát sinh từ nhiều loại nguyên nhân”. Đã có nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu về đặc điểm và nguyên nhân sự lo lắng trong học ngoại ngữ. Horwitz và Cope (1986) là những nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra thang đo mức độ lo lắng trong lớp học ngoại ngữ như một công cụ nghiên cứu tập trung đặc biệt vào cảm giác lo lắng mà những người học ngoại ngữ thường gặp trong lớp học.
Theo Horwitz (1986), đặc trưng lo lắng ngôn ngữ dựa trên ba yếu tố, đó là sự hiểu biết, sợ đánh giá tiêu cực và cảm giác lo lắng nói chung. Còn nghiên cứu do Moriam tiến hành vào năm 2005 cho thấy có mối quan hệ giữa mức độ lo lắng của sinh viên với nhận thức và niềm tin của họ trong việc học ngôn ngữ. Nghiên cứu của Young (1991) và Bailey (1983) cũng đã xác định được các nguyên nhân như sợ thất bại, nhận thức về khả năng và khả năng cạnh tranh của bản thân. Bailey (1983) thông qua phân tích nhật ký của 11 người học thấy rằng khả năng cạnh tranh có thể gây nên sự lo lắng cho người học.
Ông nhận thấy rằng người học có khuynh hướng làm tốt hơn nếu có được phản hồi tích cực từ giáo viên về tiến bộ và năng lực của mình. Ông cũng nhận thấy rằng, các bài kiểm tra và "mối quan hệ nhận thức của người học với giáo viên của họ cũng góp phần làm cho người học lo lắng về ngôn ngữ”. Hơn nữa, MacIntyre và Gardner (1991) trong một nghiên cứu mà họ tiến hành liên quan đến 97 sinh viên đại học đã phát hiện ra rằng những sinh viên với sự lo lắng về ngôn ngữ cảm thấy khó diễn đạt quan điểm của mình và có xu hướng đánh giá thấp khả năng của mình. 5 Theo Pappamihiel (2002) thì một trong số rất nhiều nguyên nhân gây nên lo lắng có thể là do “các kỹ năng của người học còn hạn chế”.
Pappamihiel đã tiến hành một nghiên cứu về sự lo lắng khi học ngoại ngữ của 178 sinh viên để xác định mức độ lo lắng tương ứng với các yếu tố cụ thể như trình độ học vấn, kỹ năng nghe và nói, kỹ năng đọc và viết. Kết quả cho thấy sự tương tác giữa các sinh viên với nhau đã làm tăng mức độ lo lắng. Ohata (2005) đã kiểm tra bản chất của sự lo lắng khi học ngoại ngữ từ quan điểm của 5 người học tiếng Anh ở Mỹ. Với việc sử dụng những câu chuyện phản ánh những khó khăn của những người học ngôn ngữ này, tác giả nhận thấy rằng sự ảnh hưởng bởi tâm lý như lưỡng lự để thể hiện ý tưởng của mình hoặc không quyết đoán, làm họ lo lắng trong khi tương tác với người khác.
Các nghiên cứu của Hamzah & Kafipiur (2009), Horwitz & Young (1991), MacIntyre & Gardner (1991) cũng phát hiện ra rằng sự lo lắng về ngôn ngữ có thể phát sinh từ các hoạt động kỹ năng tiếng Anh khác nhau như viết bài, trình bày miệng, nghe, đọc và luyện ngữ pháp. Cubukcu (2007) cũng kiểm tra mức độ lo lắng của người học và mối quan hệ của nó với việc học ngôn ngữ thứ hai bên cạnh việc điều tra các phương pháp để đối phó với sự lo lắng trên. Và Cubukcu đã chỉ ra rằng có một số yếu tố gây nên sự lo lắng đó là: sợ mắc lỗi, sợ mất mặt, sợ thất bại và sợ không đạt được tiêu chuẩn nhất định. Koch và Terrell (1991) đã nghiên cứu ảnh hưởng của sự lo lắng trong ba giai đoạn học khác nhau: trước, trong khi và sau khi học.
Tỷ lệ lo lắng cao nhất được ghi nhận là trong lớp học khi toàn bộ tiết học được ghi lại bởi máy quay. Williams và Andrade (2008) đã tiến hành một cuộc khảo sát giữa 243 sinh viên Nhật Bản trong 31 lớp học giao tiếp tiếng Anh tại 4 trường đại học ở Nhật Bản. Họ nhận thấy rằng sự lo lắng về ngôn ngữ thường gắn với giai đoạn đầu và trong quá trình học ngôn ngữ. Hơn nữa, họ cũng phát hiện ra rằng sự lo lắng của sinh viên khi học ngoại ngữ còn có nguyên nhân xuất phát từ giáo viên và bạn học của họ.
6 Ở Việt Nam cũng có khá nhiều nghiên cứu về các nguyên nhân gây ra sự lo lắng cho sinh viên khi học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Theo tác giả Nguyễn Thị Hải trong nghiên cứu “Xây dựng các giải pháp tạo động cơ học tiếng Anh cho sinh viên không chuyên tại trường Đại học Nha Trang” chỉ ra việc mất căn bản từ cấp dưới là một trong những nguyên nhân chính khiến sinh viên lo lắng khi giao tiếp bằng tiếng Anh ở đại học. Ngoài ra, cách dạy của giảng viên không gây hứng thú cho sinh viên, hay việc sinh viên không có cách học đúng đắn mặc dù rất muốn học tốt tiếng Anh cũng là những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình học tiếng Anh tại trường. Tác giả Hồ Minh Thu trong bài báo “Làm thế nào để cải thiện kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên” đăng trên tạp chí khoa học Đại học Ngoại ngữ, trường Đại học Đà Nẵng đã nêu rõ “Đại bộ phận sinh viên (67%) không có thói quen hoặc không thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Anh.
Trong những giờ thực hành nói tiếng Anh, rất ít sinh viên (chỉ khoảng 20-25%) có thể thực hiện các hoạt động theo cặp, theo nhóm một cách nhuần nhuyễn với những ý tưởng sáng tạo. Số còn lại chỉ thực hành một cách rập khuôn và thường phải có sự hỗ trợ của giảng viên và bạn bè.” Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này liên quan đến các yếu tố hình thành nên động cơ bên trong của sinh viên: thái độ học đối phó (vì đây là môn học bắt buộc trong chương trình); thái độ bất hợp tác, kiến thức hổng cũng làm cho tâm lý của các em hoang mang lo sợ khi học nói tiếng Anh. Ngoài ra, quy mô lớp học quá đông (45-65 sinh viên) khiến các em ít có cơ hội giao tiếp. Đồng quan điểm với tác giả Hồ Minh Thu, tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc trong nghiên cứu “Nâng cao kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh cho sinh viên Đại học Vinh” chỉ ra lý do tại sao sinh viên thường lo lắng khi giao tiếp tiếng Anh như sau: “Hơn 50% số sinh viên trả lời là do bắt buộc phải học; 2,1% sinh viên cho rằng ngành học của mình không cần giao tiếp tiếng Anh; 13.9% sinh viên cho rằng việc giao tiếp tiếng Anh cùng các bạn ở trường là không cần thiết, có cũng được, không có cũng được.” 7 Những nghiên cứu được tiến hành qua nhiều năm cho thấy sự lo lắng khi học ngoại ngữ là có tồn tại và do nhiều yếu tố khác nhau gây ra.
Do vậy, nhóm đề tài đã tiến hành nghiên cứu thực trạng các yếu tố gây nên sự lo lắng trong giờ học nói tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất khóa D10 trường ĐHHL và trên cơ sở kết quả đó sẽ đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu sự lo lắng trong giờ học nói tiếng Anh cho sinh viên. Cơ sở lý thuyết về kỹ năng nói Tiếng Anh 1. Định nghĩa kỹ năng nói Tiếng Anh Định nghĩa về kỹ năng nói tiếng Anh được các nhà khoa học đưa ra theo các cách khác nhau. Theo Bailey (1983), nói là việc sản sinh ra các phát ngôn bằng lời một cách có hệ thống để truyền tải nội dung.
Tác giả Campbell và Ortiz (1991) có cùng quan điểm khi cho rằng: “Nói là quá trình tương tác liên quan tới việc sản sinh, tiếp nhận và xử lý thông tin”. Byrne (1986) đưa ra định nghĩa cụ thể về nói khi nhận định rằng đó là sự giao tiếp bằng lời theo hai chiều giữa người nói và người nghe, trong đó vai trò của người nói là mã hóa thông tin còn người nghe phải giải mã được thông tin đó. Theo Young (1991), việc quan tâm đến hệ thống của ngôn ngữ mới là rất quan trọng nhưng sự phát triển độ trôi chảy và lựa chọn ngôn ngữ nói phù hợp cũng không kém phần quan trọng. Cho nên khả năng nói tốt không chỉ đơn thuần là dùng đúng ngữ điệu, mà còn là sự chọn lựa từ cho phù hợp để truyền đạt thông điệp một cách tốt nhất.
Một khái niệm khác liên quan khác là ngôn ngữ nói (spoken language). Ngôn ngữ nói khác với ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ nói bao gồm những phát ngôn (utterances) được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày nhằm truyền đạt thông tin. Trong học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Anh nói riêng, nói dường như là kỹ năng quan trọng và khó phát triển nhất bởi nói là một hoạt động đòi hỏi người học phải trang bị đầy đủ kiến thức mới có thể giao tiếp được với người khác.
Đây là lý do tại sao các hoạt động phát triển khả năng tự diễn đạt của người học thông qua nói dường như là một thành phần quan trọng nhất của một chương trình học ngoại ngữ. Đặc điểm của kỹ năng nói Tiếng Anh Theo Mejilla và Salgado (2014), các hoạt động dành cho người học nên được thiết kế dựa trên hai tiêu chí cần đạt được với vai trò quan trọng như nhau đó là khả năng nói lưu loát và độ chính xác của lời nói. Bởi vì, đây là hai yếu tố quan trọng của việc giảng dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp. Đặc điểm thứ nhất của hoạt động nói là tính lưu loát và đây cũng là mục tiêu chính mà sinh viên cần đạt được trong quá trình học kỹ năng nói.
Thornbury (2005) cho rằng khả năng nói lưu loát là khả năng trình bày vấn đề một cách dễ hiểu để không làm gián đoạn quá trình giao tiếp đang diễn ra khiến người nghe cảm thấy chán và không muốn tiếp tục nghe. Hedge (2000) thì diễn tả nói lưu loát là khả năng trả lời một cách chặt chẽ, mạch lạc thông qua việc kết hợp các từ và các cụm từ với nhau, phát âm các âm rõ ràng và có sử dụng trọng âm và ngữ điệu khi nói. Tính chính xác là đặc điểm quan trọng thứ hai của hoạt động nói. Nếu người học muốn nói lưu loát thì họ cần phải chú trọng đến cả tính chính xác của cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, cũng như cách phát âm trong khi nói.
Do đó, giáo viên nên tập trung vào cả yếu tố chính xác và lưu loát của lời nói trong quá trình giảng dạy kỹ năng nói cho sinh viên.