Tổng quan luận án

Công trình "Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Phương Lan thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trương Thị Nam Thắng và TS. Hoàng Ngọc Hải, bảo vệ năm 2022 tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9 31 01 05).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) đã chuyển dịch từ một hoạt động mang tính thiện nguyện đơn thuần thành một điều kiện mang tính ràng buộc pháp lý và kỹ thuật, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tiếp cận thị trường cao cấp. Tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nhận thức của doanh nghiệp và cộng đồng về TNXHDN còn hạn chế, các đơn vị kinh doanh phần lớn mới nhìn nhận TNXHDN ở góc độ chi phí phát sinh mà chưa thấy rõ lợi ích kinh tế lâu dài. Về mặt địa bàn, tỉnh Phú Thọ là trung tâm công nghiệp phát triển sớm tại miền Bắc với các ngành kinh tế đặc trưng gồm dệt nhuộm, hóa chất, phân bón và sản xuất giấy. Tuy nhiên, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB, 2008), Phú Thọ là địa phương có chỉ số ô nhiễm chung xếp thứ 7 trên toàn quốc, đồng thời đứng thứ 6 trong nhóm 10 tỉnh có chỉ số ô nhiễm đất và nước cao nhất. Bên cạnh đó, quan hệ lao động tại địa phương còn tồn tại nhiều bất cập như tai nạn lao động và các cuộc đình công. Luận án khẳng định trước thời điểm nghiên cứu, tại Phú Thọ chưa có công trình chính thức nào về TNXHDN được công bố dựa trên điều tra xã hội học thực nghiệm.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích thực trạng thực hiện TNXHDN của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng hệ thống kiến nghị, khuyến nghị nhằm gia tăng mức độ thực thi TNXHDN tại Việt Nam, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Tác giả xác lập bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • (i) Xác định khoảng trống nghiên cứu thông qua việc tổng quan các công trình trong nước và quốc tế;
  • (ii) Phát triển khung nghiên cứu cho đề tài luận án;
  • (iii) Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện TNXHDN tại các doanh nghiệp công nghiệp tỉnh Phú Thọ, kết hợp kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ tác động giữa việc thực hiện TNXHDN đến hiệu quả tài chính;
  • (iv) Đưa ra các kiến nghị và khuyến nghị đối với doanh nghiệp, người lao động và cơ quan quản lý nhà nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện TNXHDN của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai trụ cột cốt lõi là thực hiện TNXHDN với người lao động và TNXHDN với môi trường.
  • Phạm vi thời gian: Phân tích số liệu và thực trạng hoạt động trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu được tác giả phân chia theo các nhóm chủ đề cụ thể:

Các nghiên cứu về khái niệm và nội hàm TNXHDN: Văn bản điểm lại nguồn gốc thuật ngữ bắt đầu từ cuốn sách của Bowen (1953), tiếp nối bởi quan điểm của trường phái cổ điển do Milton Friedman (1970) đại diện, cho rằng trách nhiệm duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ pháp lý. Trái lại, quan điểm hiện đại mở rộng trách nhiệm ra ngoài phạm vi kinh tế với mô hình tháp trách nhiệm xã hội bốn tầng của Archie Carroll (1999) gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện; cùng lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984), Baron (1995), Clarkson (1995). Các học giả như Secchi (2007), Lee (2008), Salmi Mohd Isa (2012) nhấn mạnh tính chất động và sự biến đổi của chuẩn mực TNXHDN theo thời gian.

Các nghiên cứu về TNXHDN với người lao động và môi trường:

  • Về người lao động: Albinger và Freeman (2000), Greening và Turban (2000), Brammer và cộng sự (2007), Peterson (2004), Battaglia và cộng sự (2014) khảo sát 213 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ngành thời trang tại Ý và Pháp; Lee, EM, Park và Lee HJ (2013).
  • Về môi trường: Hart (1995), Jamison và cộng sự (2005), Hansen và Mowen (2007), Lyon và Maxwell (2008), Kusku (2007), Kritkausky và Schmidt (2011) về bộ tiêu chuẩn ISO 26000, Agata Lulewicz-Sas và Joanna Godlewska (2015), Cui Zhang (2015) nghiên cứu tại Trung Quốc, báo cáo đánh giá ô nhiễm của Ngân hàng Thế giới (WB, 2008).

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa TNXHDN và hiệu quả tài chính: Tác giả chia các công trình thực nghiệm thành ba luồng quan điểm:

  • Tương quan thuận chiều: Mishra và Suar (2010) tại Ấn Độ, Sayed và cộng sự (2015) tại Iran, Udiale và Fagbemi (2012) tại Nigeria, Baird, Geylani và Roberts (2012), Asatryan và Brezinnová, Gras-Gil và cộng sự, Dhaliwal và cộng sự (tại 31 quốc gia), Drobertz và cộng sự, Patricia Crifo và cộng sự (10.293 công ty Pháp), Dessy Angelia và Rosita Suryamingsih (tại Indonesia), Famiyeh (tại Ghana), Hategan và Curea-Pitorac (2017).
  • Tương quan nghịch chiều: Wright và Ferris (1997), Cordeiro và Sarkis (khảo sát 523 công ty tại Mỹ), Peng và Yang (tại Đài Loan).
  • Kết quả trung lập hoặc không có tương quan: Ullmann (1985), Abbott và Monsen (1979), McWilliams và Siegel, Soana (2011) trong ngành ngân hàng.

Tình hình nghiên cứu trong nước: Luận án phân loại bốn hướng tiếp cận chính tại Việt Nam:

  1. Tiếp cận theo mô hình tháp Carroll: Phạm Thị Huyền Sang (giai đoạn 2000-2015);
  2. Tiếp cận theo lý thuyết các bên liên quan: Nguyễn Thị Phương Mai (2015) dựa trên thuyết hành vi hợp lý (TRA), Nguyễn Hồng Hà, Phạm Đức Hiếu;
  3. Tiếp cận theo quan điểm chiến lược: Hoàng Thị Thanh Hương (khảo sát 185 DNNVV ngành may, sử dụng phần mềm SPSS 16);
  4. Tiếp cận theo hướng chi phí - lợi ích và các khía cạnh cụ thể: Trần Thị Hoàng Yến (2016, khảo sát 168 nhà quản lý ngân hàng thương mại, dùng SPSS 22), Đào Quang Vinh (khảo sát 24 doanh nghiệp dệt may và da giày), Phạm Văn Đức (2009), Nguyễn Thị Thu Trang (2017), Phạm Văn Thuận (2010), Nigel Twose và Tara Rao, Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, Nguyễn Đình Tài, Nguyễn Ngọc Thắng (nghiên cứu Tập đoàn FPT theo tiêu chuẩn ISO 26000), Phạm Việt Thắng (khảo sát 750 lao động ngành dệt may bằng mô hình SEM trên SPSS 17.0), Châu Thị Lệ Duyên (khảo sát 392 doanh nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long bằng mô hình SEM).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình nghiên cứu trong nước chỉ dừng ở mô tả thực trạng, tập trung vào ngành may mặc, da giày hoặc dịch vụ ngân hàng. Chưa có nghiên cứu định lượng kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa việc thực hiện TNXHDN (trên cả hai góc độ người lao động và môi trường) với hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ở cấp độ địa phương, đặc biệt tại địa bàn có mức độ ô nhiễm cao như Phú Thọ, có kiểm soát theo quy mô và số năm hoạt động.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án kế thừa và vận hành các lý thuyết nền tảng sau:

  • Khái niệm TNXHDN của Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì sự Phát triển Bền vững (WBCSD, 1999): cam kết đóng góp cho phát triển bền vững thông qua tuân thủ các chuẩn mực về môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi và đãi ngộ lao động, phát triển cộng đồng.
  • Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Archie Carroll (1999).
  • Lý thuyết các bên liên quan của R. Edward Freeman (1984) và Baron (1995) phân định nhóm thị trường và phi thị trường.
  • Lý thuyết bộ ba cốt lõi bền vững (Triple Bottom Line - TBL) của Elkington (1997) và Besler (2009) bao gồm ba trụ cột: Kinh tế - Xã hội - Môi trường.
  • Bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 26000 với bảy chủ đề cốt lõi: quản trị tổ chức, nhân quyền, thực hành lao động, môi trường, hoạt động công bằng, các vấn đề người tiêu dùng, sự tham gia và phát triển cộng đồng.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính:
    • Nghiên cứu tại bàn: tổng quan các tài liệu thứ cấp;
    • Phương pháp tham vấn chuyên gia: hoàn thiện thang đo và mô hình nghiên cứu;
    • Phương pháp phân tích nội dung: tính toán chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp;
    • Phương pháp so sánh: đối chiếu câu trả lời giữa nhóm lãnh đạo doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng;
    • Phỏng vấn sâu: khảo sát 20 nhà lãnh đạo doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm nhận diện khó khăn, rào cản.
  • Phương pháp định lượng:
    • Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha;
    • Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) kết hợp kiểm định Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) và Bartlett;
    • Phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) nhằm kiểm định mối liên hệ giữa các biến độc lập (TNXHDN với người lao động, TNXHDN với môi trường) và biến phụ thuộc (ROA, ROE), kiểm soát theo quy mô doanh nghiệp và số năm hoạt động.

Nguồn dữ liệu của luận án: Dữ liệu sơ cấp thu thập qua bảng hỏi gửi tới cán bộ quản trị doanh nghiệp và người lao động, cùng kết quả phỏng vấn sâu 20 lãnh đạo doanh nghiệp; dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp giai đoạn 2017-2019, số liệu thống kê doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ và báo cáo của WB (2008).

Nhóm biến trong mô hình Tên biến / Khái niệm đo lường Cơ sở lý thuyết và công cụ xử lý
Biến độc lập 1 Thực hiện TNXHDN với người lao động ISO 26000, Carroll (1999); Cronbach's Alpha & EFA
Biến độc lập 2 Thực hiện TNXHDN với môi trường Jamison et al. (2005), ISO 26000; Cronbach's Alpha & EFA
Biến phụ thuộc Hiệu quả tài chính (ROA, ROE) Báo cáo tài chính doanh nghiệp (2017-2019)
Biến kiểm soát Quy mô doanh nghiệp; Số năm hoạt động Thống kê phân loại theo Luật Hỗ trợ DNNVV và BCTC

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Chương này tập trung hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của các lý thuyết TNXHDN trên thế giới từ năm 1953 đến nay. Tác giả phân tích sâu các tranh luận học thuật về vai trò của TNXHDN đối với người lao động, môi trường và phát triển bền vững, đồng thời chỉ ra tính chất mâu thuẫn trong kết quả của các công trình thực nghiệm quốc tế khi đánh giá ảnh hưởng của TNXHDN đến hiệu quả tài chính. Đối với bối cảnh trong nước, chương 1 tổng kết các xu hướng nghiên cứu theo bốn nhánh tiếp cận chính (mô hình tháp Carroll, lý thuyết các bên liên quan, quan điểm chiến lược, hướng chi phí - lợi ích). Từ việc phân tích các hạn chế của những nghiên cứu trước đây (chủ yếu tập trung ở các ngành xuất khẩu mũi nhọn như dệt may, da giày, hoặc ngành ngân hàng; thiếu vắng nghiên cứu định lượng kiểm định tác động tại các tỉnh công nghiệp phía Bắc), chương 1 đã xác định khoảng trống học thuật và định vị sự cần thiết của đề tài luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và khung nghiên cứu

Chương 2 làm rõ cơ sở lý luận về nguồn gốc, khái niệm và nội dung của TNXHDN, lựa chọn khái niệm chuẩn hóa của WBCSD (1999) làm nền tảng. Tác giả trình bày chi tiết mô hình tháp của Archie Carroll (1999), lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984) và hệ thống tiêu chuẩn ISO 26000. Chương này phân tích vai trò của TNXHDN đối với sự phát triển bền vững trên ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.

Đặc biệt, dựa trên kết quả phỏng vấn sâu 20 lãnh đạo doanh nghiệp công nghiệp tại Phú Thọ, chương 2 tổng hợp bốn rào cản thực tế cản trở việc thực thi TNXHDN:

  1. Rào cản tài chính: Chi phí tuân thủ lớn trong khi 92% doanh nghiệp công nghiệp tại địa phương là DNNVV có tích lũy vốn mỏng và dòng tiền chưa ổn định;
  2. Rào cản công nghệ: Trình độ kỹ thuật thấp, khó tiếp cận vốn vay đổi mới công nghệ (dẫn chứng từ Viện Đánh giá Khoa học và Công nghệ chỉ ra chỉ 23% doanh nghiệp được điều tra có hoạt động đổi mới công nghệ);
  3. Rào cản hành lang pháp lý: Chính sách hỗ trợ còn phân tán, thiếu tính liên kết cụm ngành, thủ tục phức tạp;
  4. Rào cản tiếp cận thị trường: Khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới đòi hỏi tiêu chuẩn xanh.

Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập khung nghiên cứu, các giả thuyết và quy trình phân tích định lượng tác động của TNXHDN đối với người lao động và môi trường đến chỉ tiêu tài chính ROA, ROE.

Chương 3: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ, phân loại cấu trúc doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn. Dựa trên số liệu thống kê và kết quả khảo sát thực địa giai đoạn 2017-2019, tác giả phân tích thực trạng thực hiện TNXHDN theo các tiêu chí: hình thức pháp lý, ngành nghề kinh doanh, quy mô và tình trạng niêm yết.

Chỉ tiêu / Vấn đề thực trạng Số liệu và ghi nhận thực tế từ luận án Nguồn dẫn chứng trong văn bản
Xếp hạng ô nhiễm chung Đứng thứ 7 toàn quốc về chỉ số ô nhiễm chung Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB, 2008)
Xếp hạng ô nhiễm đất và nước Đứng thứ 6 trong nhóm 10 tỉnh ô nhiễm cao nhất Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB, 2008)
Ngành công nghiệp ô nhiễm khí Sản xuất phân bón tập trung mật độ cao Khảo sát thực địa và số liệu ngành công nghiệp
Tỷ lệ DNNVV trong ngành công nghiệp Chiếm 92% tổng số doanh nghiệp công nghiệp Phú Thọ Tổng hợp khảo sát của nghiên cứu sinh
Tỷ lệ đổi mới công nghệ Đạt mức 23% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới Viện Đánh giá Khoa học và Công nghệ
Nhận thức và thực thi TNXHDN Thực hiện mang tính bị động, đối phó, thiếu chiến lược Khảo sát lãnh đạo DN và phỏng vấn sâu 20 lãnh đạo

Về phân tích định lượng, chương 3 trình bày các kết quả kiểm định thống kê:

  • Kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy các biến quan sát đều đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, các chỉ số KMO và kiểm định Bartlett thỏa mãn điều kiện phân tích;
  • Mô hình hồi quy OLS xác nhận việc thực hiện TNXHDN với người lao động và môi trường có tác động tích cực (thuận chiều) đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp biểu hiện qua ROA và ROE;
  • Phân tích hồi quy có kiểm soát chỉ ra mối quan hệ tác động này có sự khác biệt rõ rệt theo quy mô doanh nghiệp (doanh nghiệp lớn có mức độ tác động mạnh hơn DNNVV) và theo số năm hoạt động (doanh nghiệp lâu năm tận dụng lợi ích từ TNXHDN hiệu quả hơn doanh nghiệp mới thành lập).

Phần cuối chương 3 chỉ ra các thành công, hạn chế và nguyên nhân: doanh nghiệp đã bước đầu chú ý đến điều kiện làm việc của người lao động nhưng việc xử lý chất thải, giảm phát thải khí nhà kính và nước thải công nghiệp còn mang tính đối phó; nguyên nhân trực tiếp bắt nguồn từ gánh nặng chi phí, thiếu công nghệ xử lý và thiếu chế tài giám sát nghiêm ngặt.

Chương 4: Kiến nghị, khuyến nghị và kết luận

Từ các phát hiện lý luận và kết quả thực nghiệm, chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Đối với doanh nghiệp: Cần chủ động đưa TNXHDN vào chiến lược phát triển dài hạn; lập kế hoạch tài chính cụ thể cho các hoạt động phúc lợi lao động và bảo vệ môi trường; tận dụng lợi thế quy mô để đổi mới dây chuyền sản xuất sạch hơn;
  • Đối với người lao động: Tăng cường hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý, tích cực tham gia các tổ chức công đoàn và đối thoại định kỳ với người sử dụng lao động;
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Rà soát, đồng bộ hóa các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường và lao động; xây dựng các gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc xả thải tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; công khai thông tin vi phạm để cộng đồng giám sát.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn như sau:

  1. Đóng góp về mặt lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ hệ thống cơ sở lý luận về TNXHDN trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển; xây dựng thang đo thực hiện TNXHDN với người lao động và môi trường phù hợp với thông lệ quốc tế (dựa trên tiêu chuẩn ISO 26000 và các nghiên cứu thực nghiệm tiền nhiệm); thiết lập khung phân tích và mô hình hồi quy kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa TNXHDN và hiệu quả tài chính doanh nghiệp công nghiệp.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Phác họa bức tranh toàn diện về thực trạng thực thi TNXHDN tại tỉnh Phú Thọ, chỉ rõ hành vi của doanh nghiệp phần lớn vẫn mang tính thụ động, đối phó và chịu áp lực lớn từ hạn chế tài chính (khi 92% là DNNVV);
    • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định việc thực hiện trách nhiệm xã hội với người lao động và môi trường có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính (ROA, ROE) của doanh nghiệp công nghiệp;
    • Chứng minh sự khác biệt trong mối quan hệ giữa TNXHDN và hiệu quả tài chính khi được kiểm soát bởi quy mô doanh nghiệp và số năm hoạt động;
    • Đưa ra hệ thống giải pháp và khuyến nghị có tính ứng dụng dành cho ba nhóm đối tượng: doanh nghiệp, người lao động và các cơ quan quản lý nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án nêu rõ một số giới hạn trong phạm vi nghiên cứu:

  • Giới hạn về không gian và ngành nghề: Nghiên cứu chỉ tập trung vào các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, chưa thể khái quát hóa hoàn toàn cho các loại hình doanh nghiệp thương mại, dịch vụ hoặc các địa phương có cơ cấu kinh tế khác;
  • Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung chuyên sâu vào hai khía cạnh là người lao động và môi trường, chưa bao quát đầy đủ tất cả các bên liên quan khác như khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và cộng đồng dân cư;
  • Giới hạn về thời gian dữ liệu: Khảo sát thực địa và dữ liệu tài chính dừng lại ở giai đoạn 2017-2019, chưa đánh giá được các biến động kinh tế trong các giai đoạn tiếp theo;
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng địa bàn khảo sát sang các tỉnh lân cận thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc; bổ sung các biến đo lường TNXHDN đối với người tiêu dùng và chuỗi cung ứng; áp dụng các mô hình định lượng nâng cao với dữ liệu bảng theo chuỗi thời gian dài hơn để phân tích tác động trễ của TNXHDN đến giá trị doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Công trình luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh: Luận án cung cấp một tài liệu tổng quan phong phú với danh mục tài liệu tham khảo chi tiết; bộ thang đo chuẩn hóa về TNXHDN với người lao động và môi trường là tài liệu hữu ích cho việc thiết kế các công cụ khảo sát thực nghiệm tiếp theo;
  • Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất công nghiệp: Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tế giúp lãnh đạo doanh nghiệp nhận thức rõ rằng các khoản đầu tư cho môi trường và người lao động không đơn thuần là chi phí tổn thất, mà là yếu tố thúc đẩy cải thiện các chỉ số tài chính ROA và ROE;
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ, Ban Quản lý các Khu công nghiệp): Luận án là cơ sở thực tiễn để hoạch định các chính sách hỗ trợ kỹ thuật, ưu đãi thuế, xúc tiến chuyển giao công nghệ sạch và hoàn thiện cơ chế giám sát ô nhiễm công nghiệp tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo tổ chức nào?
Luận án kế thừa và sử dụng định nghĩa của Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì sự Phát triển Bền vững (WBCSD, 1999), theo đó TNXHDN là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho phát triển kinh tế bền vững thông qua việc tuân thủ các chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng và bảo đảm chất lượng sản phẩm.

2. Tại sao tác giả lại lựa chọn địa bàn tỉnh Phú Thọ để thực hiện nghiên cứu?
Phú Thọ là trung tâm công nghiệp lâu đời tại phía Bắc với các ngành sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm cao như hóa chất, phân bón, giấy, dệt nhuộm. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB, 2008), tỉnh xếp thứ 7 cả nước về chỉ số ô nhiễm chung và xếp thứ 6 về mức độ ô nhiễm đất và nước. Đồng thời, quan hệ lao động tại đây có nhiều diễn biến phức tạp, xuất hiện các cuộc đình công và tai nạn lao động, nhưng trước đó chưa có nghiên cứu chính thức nào về TNXHDN được công bố thông qua điều tra xã hội học.

3. Những khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp công nghiệp Phú Thọ gặp phải khi thực hiện TNXHDN là gì?
Kết quả phỏng vấn sâu 20 lãnh đạo doanh nghiệp chỉ ra bốn rào cản chính: (1) Khó khăn tài chính (92% doanh nghiệp là DNNVV thiếu vốn); (2) Khó khăn công nghệ (chỉ 23% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới công nghệ theo khảo sát của Viện Đánh giá Khoa học và Công nghệ); (3) Khó khăn về hành lang pháp lý (chính sách hỗ trợ còn phân tán, thủ tục rườm rà); (4) Khó khăn trong việc tiếp cận các thị trường mới có yêu cầu tiêu chuẩn cao.

4. Kết quả kiểm định định lượng cho thấy mối liên hệ giữa TNXHDN và hiệu quả tài chính ra sao?
Phân tích hồi quy tuyến tính OLS chỉ ra rằng việc thực hiện TNXHDN đối với người lao động và môi trường có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp đo bằng chỉ tiêu ROA và ROE. Mối quan hệ này có sự khác biệt rõ nét khi kiểm soát theo quy mô doanh nghiệp và số năm hoạt động.

5. Mô hình nghiên cứu của luận án tập trung vào những khía cạnh TNXHDN cụ thể nào?
Luận án giới hạn phạm vi nội dung vào hai khía cạnh trụ cột là trách nhiệm xã hội đối với người lao động (điều kiện làm việc, an toàn, chế độ đãi ngộ, quan hệ lao động) và trách nhiệm xã hội đối với môi trường (xử lý chất thải, phòng ngừa ô nhiễm, sử dụng tài nguyên bền vững), thay vì dàn trải toàn bộ các khía cạnh của TNXHDN.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Phương Lan là công trình nghiên cứu chuyên khảo về thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2017-2019. Bằng việc kết hợp phương pháp định tính và mô hình hồi quy định lượng OLS, tác giả đã chứng minh mối liên hệ tác động thuận chiều giữa việc thực hiện trách nhiệm xã hội với người lao động, môi trường và hiệu quả tài chính (ROA, ROE) của doanh nghiệp. Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn giúp nhận diện các rào cản về vốn, công nghệ và thể chế, đồng thời đề xuất các giải pháp đồng bộ cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước nhằm hướng tới mục tiêu phát triển công nghiệp bền vững.