Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁ NHÂN, PHÁP NHÂN NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm và nguồn của chế định TNBTCNN đối với CNPN nƣớc ngoài 1. Khái niệm TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài 1. Khái niệm Trong quy định của PLQT, các quốc gia phải chịu trách nhiệm đối với những hậu quả phát sinh từ hành vi vi phạm PLQT của mình.
Nội dung trách nhiệm của các quốc gia trong trường hợp này được gọi là Trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia đối với các hành vi trái PLQT. Trong bản Báo cáo thứ ba của mình trước Ủy ban pháp luật của Liên Hợp Quốc, Roberto Ago (báo cáo viên đặc biệt của Ủy ban PLQT) đã khẳng định rằng trách nhiệm đối với những hành vi trái luật luôn tồn tại ở dạng này hay dạng khác trong hệ thống pháp luật và quyền các của các cá nhân luôn xuất phát từ hệ quả của việc vi phạm các nghĩa vụ quốc tế [59]. Theo Charles de Visscher (thành viên của Tòa trọng tài thường trực quốc tế và Tòa án công lý quốc tế) trách nhiệm nhà nước được mô tả như là "hệ quả tất yếu cần thiết của sự bình đẳng của các quốc gia. Nhưng hơn thế nữa trong trật tự pháp lý quốc tế, nó là hệ quả cần thiết cho chính trật tự pháp lý quốc tế nơi mà quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế đều phải tuân thủ [48, tr.4] Nội dung của trách nhiệm pháp lý quốc tế có thể là một hoặc nhiều những nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện nhằm khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra.
Các biện pháp khắc phục bao gồm: (i) Nghĩa vụ chấm dứt 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành vi vi phạm và đảm bảo không tái diễn hành vi vi phạm, (ii) nghĩa vụ bồi hoàn, bao gồm nghĩa vụ khôi phục nguyên trạng, nghĩa vụ BTTH và nghĩa vụ thỏa mãn yêu cầu của chủ thể bị thiệt hại [47, tr.782] Trong các nghĩa vụ trên đây, BTTH là nghĩa vụ cơ bản nhất, được áp dụng chủ yếu và có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nghĩa vụ này có ý nghĩa đảm bảo cho quyền lợi của các chủ thể bị thiệt hại sẽ được khôi phục trong các trường hợp khi mà các nghĩa vụ khác của quốc gia đã được thực hiện nhưng không đạt hiệu quả. Nghĩa vụ bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm pháp lý mà Nhà nước phải thực hiện khi Nhà nước gây phát sinh thiệt hại trong quá trình thực hiện hành vi công quyền của mình. Và do vậy, chúng ta gọi nghĩa vụ đó là TNBTCNN.
Hiểu theo nghĩa chung nhất, bồi thường là việc đền bù những tổn thất đã gây ra [44, tr. BTTH là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh đối với chủ thể gây thiệt hại nhằm đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra. Trách nhiệm BTTH là “Hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại” [44, tr. Theo quy định hiện nay của PLQT về bảo vệ quyền con người, về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia, đồng thời, theo quan điểm về việc xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền nơi mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước và công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật [19] thì trong mối quan hệ giữa Nhà nước và các CNPN, Nhà nước cũng phải thực hiện TNBT đối với những thiệt hại do mình gây ra.
Điều này có nghĩa là, khi Nhà nước thực hiện quyền lực công thông qua các hành vi của người thi hành công vụ mà gây thiệt hại cho các CNPN thì phải chịu TNBT [22, tr.7-8] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ các nội dung được phân tích trên đây, ta có thể đưa ra khái niệm về TNBTCNN như sau: TNBTCNN là một dạng trách nhiệm pháp lý của Nhà nước, theo đó, Nhà nước có nghĩa vụ phải bồi thường đối với những thiệt hại do cơ quan Nhà nước (CQNN), người thi hành công vụ gây ra theo quy định của pháp luật. Chế định TNBTCNN là tổng thể những nguyên tắc, quy phạm pháp luật xác định sự phát sinh, nội dung và cơ chế thực hiện TNBTCNN. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, kể từ khi Liên Hợp Quốc ra đời, PLQT phát triển với xu hướng bảo vệ quyền cơ bản của con người. Đây là những cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc bảo đảm cho các quyền và lợi ích hợp pháp của CNPN.
Bên cạnh đó, vị trí của các cá nhân trong quan hệ PLQT dần thay đổi, trong nhiều trường hợp cá nhân đã được ghi nhận là một chủ thể PLQT. Do đó, trong mối quan hệ giữa Nhà nước và các cá nhân, Nhà nước cũng phải thực hiện TNBT nếu như gây thiệt hại và không gì có thể cản trở Nhà nước đảm bảo cho cá nhân các quyền và lợi ích đã được ghi nhận trong các Công ước quốc tế, hoặc xem xét một số biện pháp quốc tế để bảo vệ những quyền đó của các cá nhân. Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, mối quan hệ giữa Nhà nước với các CNPN nước ngoài trở nên phổ biến. Việc CNPN của một quốc gia sống, làm việc tại một quốc gia khác nơi họ không mang quốc tịch ngày càng nhiều hơn.
Và trong quá trình Nhà nước thực hiện chức năng của mình, nếu như Nhà nước có hành vi gây thiệt hại đối với các CNPN nước ngoài thì Nhà nước cũng phải có TNBT tương tự như đối với các CNPN mang quốc tịch. Điều này có nghĩa là, đối với CNPN nước ngoài nếu phải chịu thiệt hại phát sinh từ HVNN của một quốc gia khác thì CNPN đó cũng có quyền yêu cầu bồi thường và trách nhiệm của Nhà nước đó là phải thực hiện TNBT cho những thiệt hại đã gây ra. Việc Nhà nước thực hiện TNBT đối với CNPN 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước ngoài là nhằm đảm bảo thực hiện các ĐƯQT về quyền con người, tạo nên một môi trường xã hội công bằng giữa CNPN nước ngoài và CNPN mang quốc tịch, tạo điều kiện đẩy mạnh quá trình hội nhập. Như vậy, TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài là trách nhiệm pháp lý mà ở đó Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường đối với các CNPN nước ngoài bị thiệt hại do CQNN, người thi hành công vụ gây ra theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia và Chế định TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài là tổng thể những nguyên tắc, quy phạm pháp luật xác định sự phát sinh, nội dung và cơ chế thực hiện TNBTCNN.
Đặc điểm TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài là một loại trách nhiệm pháp lý, nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung thì TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài còn có những đặc điểm riêng: Thứ nhất, chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý trong TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài chính là Nhà nước. Khi bàn đến vấn đề trách nhiệm pháp lý, ta thấy rằng trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi do Nhà nước áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật, theo đó chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những biện pháp chế tài theo quy định của pháp luật. Chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý thường là giữa các CNPN với nhau hoặc là giữa CNPN với Nhà nước. Tuy nhiên, trong TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài thì chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý chính là Nhà nước.
Trong trường hợp này, Nhà nước khước từ quyền ưu đãi, miễn trừ của mình để thực hiện TNBT cho CNPN nước ngoài theo quy định của pháp luật. Thứ hai, chủ thể được hưởng BTTH là CNPN nước ngoài trực tiếp bị thiệt hại hoặc cả những người thân của họ hoặc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Ví dụ: đối với trường hợp một cá nhân bị đi tù oan sai, thì 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài việc bồi thường những thiệt hại vật chất và tinh thần đối với chủ thể đó, Nhà nước còn phải xem xét trách nhiệm của mình bồi thường đối với những thiệt hại mà thân nhân hay người có liên quan tới chủ thể bị tù oan phải gánh chịu xuất phát từ sự kiện đó. Thứ ba, TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài là một quan hệ pháp luật mang tính quốc tế giữa quốc gia và các cá nhân nước ngoài, trách nhiệm của quốc gia đã được ghi nhận trong các ĐƯQT, nhưng trên thực tế TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài chỉ được đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định theo quy định của PLQG.
Các điều kiện phát sinh thông thường bao gồm điều kiện về thiệt hại, điều kiện về HVNN và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và HVNN. Ngoài các điều kiện phát sinh cơ bản trên đây thì còn những điều kiện khác như, yếu tố lỗi, yếu tố phạm vi bồi thường… tùy vào sự phát triển và thái độ của từng quốc gia mà các điều kiện phát sinh TNBTCNN đối với các CNPN nước ngoài được quy định ở mức độ khác nhau. Thứ tư, trong nhiều trường hợp, việc thực hiện TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài được thực hiện trên cơ sở của sự thừa nhận trách nhiệm của các quốc gia với nhau. Nhiều quốc gia chỉ thực hiện TNBT đối với CNPN nước ngoài trong trường hợp quốc gia nơi CNPN nước ngoài mang quốc tịch cũng thực hiện trách nhiệm tương tự đối với công dân của họ (nguyên tắc có đi có lại).
Để bảo vệ vấn đề chủ quyền của mình thì họ chỉ thực hiện TNBT trên phạm vi lãnh thổ của nước họ, những thiệt hại phát sinh ngoài lãnh thổ sẽ không được bồi thường. Thứ năm, TNBTCNN đối với CNPN nước ngoài là trách nhiệm của Nhà nước đối với các cá nhân, nhưng đồng thời cũng chính là trách nhiệm pháp lý quốc tế của các quốc gia trong quan hệ PLQT. Việc một quốc gia không thực hiện TNBT đối với CNPN mang quốc tịch của một quốc gia khác 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể là sự vi phạm nghĩa vụ đã cam kết của các quốc gia trong các ĐƯQT song phương hoặc đa phương mà quốc gia đó là thành viên. Trong pháp luật quốc tế, TNBTCNN đối với CNPN mang quốc tịch của các quốc gia khác là một dạng trách nhiệm pháp lý quốc tế của các quốc gia, là trách nhiệm giữa các quốc gia với nhau và được các quốc gia thừa nhận và cam kết thực hiện theo quy định tại các ĐƯQT.