Mở đầu - Kết quả nghiên cứu - Các chuyên dé: 1. Khái quát chung quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm 2. Pháp luật của một số nước qui định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm các quyền nhân thân của cá nhân 3. Đánh giá các qui định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm các quyền nhân than của cá nhân trước năm 1945 4.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân 5. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Bồi thường thiệt hại do xâm phạm bí mật đời tư v-PSn Bồi thường thiệt hại do xâm phạm hình ảnh của cá nhân Bồi thường thiêt hại do xâm phạm họ, tên của cá nhân Bồi thường thiệt hai về sức khoẻ, tính mang 10.Bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến bộ phận cơ thé của cá nhân 11.Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 12.Bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 13.Trách nhiệm bồi thường của nhà nước - Tài liệu tham khảo PHAN THỨ NHAT TONG THUAT KET QUA NGHIEN CUU I. KHÁI QUÁT QUYEN NHÂN THAN CUA CA NHÂN VÀ CO CHE BAO VE QUYEN NHAN THAN CUA CA NHAN 1. Khái niệm quyền nhân thân do Luật dân sự điều chỉnh Điều 24 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “ Quyên nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyên dân sự gắn liên với môi cá nhân, không thé chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật quy định khác”.
Theo đó, có thể hiểu quyền nhân thân là quyền của mỗi cá nhân đối với các đặc điểm về thân thé, tinh cách và cuộc sống của bản thân mình. Khái niệm “Quyền nhân thân” được xây dựng ghép từ hai khái niệm — đó là khái niệm “quyền” và khái niệm “nhân thân”. Khi đề cập đến khái niệm “quyền”, có thể được hiểu là “cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay bản chất con người cho phép hưởng thụ, vận dung, thi hành và khi thiếu được yêu cau dé có, nếu bị tước đoạt thì có thé đòi hỏi để giành lạ"`. Theo Từ điển Tiếng Việt 2003 của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: “Nhân thân được hiểu là tổng hợp các đặc điểm về than thể, tích cách và cuộc sống cá nhân của một con người, về mặt thi hành pháp luật".
Như vậy, có thé hiểu nhân thân là những yếu tố gan liền với mỗi con người cụ thể, liên quan trực tiếp tới cá nhân như hình dáng, khuôn mặt, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp,. Khái niệm “nhân thân” cũng được đề cập trong một số công trình khoa học. Chăng hạn, trong công trình khoa học cấp Bộ với dé tài “Vai trò của Toà án nhân dân trong việc báo vệ quyên nhân thân của công dân theo quy định của BLDS`"' thi: ' Từ điển Bach Khoa Việt Nam 2000. Nhân thân một người bao gồm các đặc điểm như: giới tính, độ tuổi, dân tộc, thành phan xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, điều kiện sinh sống, hoàn cảnh gia đình, quá trình hoạt động chính trị xã hội, tính tình tác phong, có hay không có tiền án tiền sự.Mỗi người có một nhân thân riêng và chính nó biểu thị đặc điểm liên quan đến nhận thức và hành vi của từng người.
Vì vậy, trong công tác điều tra, truy tố, Xét XỬ, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xác định rõ nhân thân của từng con người, để có thể áp dụng những biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ quyền của con người, của cá nhân đó hoặc xác định trách nhiệm về hình sự, dân sự, hành chính.của con người do’. Vậy, quyền nhân thân được hiểu như thé nào trên cơ sở các khái niệm nội hàm của nó đã được làm sáng tỏ? Hiện nay, có một số khái niệm quyền nhân thân được đề cập trong các công trình khoa học: * Trong “công trình nghiên cứu khoa học cáp bộ” của Toà án nhân dân Tối cao về dé tài: “Vai trò của TAND trong việc bảo vệ quyên nhân thân của công dân theo quy định của BLDS” (Số đăng ký: 96 - 98 - 063/DT) có đưa ra khái niệm quyền nhân thân như sau: - Dưới góc độ chủ thể, quyền nhân thân về dân sự được hiểu là quyền con người về dân sự gắn liền với mỗi cá nhân được thụ hưởng với tư cách là thành viên của cộng đồng ké từ thời điểm người đó được sinh ra và bằng các quyền đó, mỗi cá nhân được khẳng định địa vị pháp lý của mình trong giao lưu dân sự, do đó mỗi cá nhân đều có quyền nhân thân riêng và quyền này không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Dưới góc độ khách thể, quyền nhân thân về dân sự của cá nhân được hiểu là chế định pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật về các quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân để bảo đảm địa vị pháp lý cho mọi cá nhân, là cơ sở pháp ly dé cá nhân thực hiện các quyên con người về dan sự trong sự ? Toà án Nhân dan Tếi cao (1997), Công trình nghiên cứu khea học cấp Rộ “Vai trò của Toà án nhân dan trong việc bảo vệ quyên nhân thân của công dân theo quy định của Bộ luật Dân sự”. sô đăng ký: 96-98- 063/DT, Hà Nội, trang !8.
bảo hộ của nhà nước và pháp luật. * Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của trường Đại học Luật Hà Nội có ghi: Quyên nhân thân: Giá trị nhân thân của cá nhân, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Chi những giá trị nhân than được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân. Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định.
Quyền nhân thân bao gồm: Quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gan với tài sản. Quyền nhân thân gắn với tài sản là quyền nhân thân khi được xác lập thì làm phát sinh các quyền tài sản. Quyền nhân thân là tiền đề làm phát sinh quyền tài sản khi có những sự kiện pháp lý nhất định (như quyền tác giả.) Quyền nhân thân không gắn với tài sản là quyền nhân thân tồn tại một cách độc lập không liên quan đến tài sản (như nhân phẩm, danh dự. * Trong cuốn Từ điển Luật học của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (Nxb Tư Pháp), khái niệm quyền nhân thân được hiểu là quyền dân sự gan liền với mỗi cá nhân mà không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ké từ khi quyền nhân thân được chính thức thừa nhận trong Bộ luật Dân sự, một số học giả đã đưa ra định nghĩa về quyền nhân thân. Cụ thé, PGS, Tiến sĩ Bui Đăng Hiếu đã đưa ra khái niệm quyền nhân thân như sau: “quyên nhân thân là quyên dân sự gắn với tinh than của mỗi chủ thé, không định giá được thành tién và không thể chuyển giao cho người khác trừ các * Nt, trang 19. ; 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), “Tir điện Luật học”. Nxb Công an nhân dan, Hà Nội.
trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tổng hợp cách hiểu của tất cả các học giả nêu trên kết hợp với quy định tại Điều 24 BLDS năm 2005, chúng ta có thể xây dựng khái niệm về quyền nhân thân như sau: Theo nghĩa khách quan, Quyền nhân thân là tông hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với ban thân mình và đây là cơ sở dé cá nhân thực hiện quyền của mình. Theo nghĩa chủ quan, Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gan liền với cá nhân do Nha nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thé chuyên giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nhu vậy, ta có thé hiểu quyền nhân thân là quyền tự do dân sự của mỗi cá nhân, mang tính cá biệt, không thể định giá được thành tiên và không được chuyển giao cho người khác, được pháp luật quy định và bảo vệ nhằm hạn chê sự xâm phạm của chủ thê khác đôi với môi cá nhân.
Đặc điểm quyền nhân thân Ngoài những đặc điểm chung của quyền con người, quyền công dân thì quyền nhân thân có những nét đặc thù sau đây : (Từ khi sinh ra mọi người đều có quyền nhân thân. Quyền nhân thân có quan hệ với quyền tự nhiên. Mọi người đều có quyền nhân thân từ khi sinh ra. Chính vì thé, quyền nhân thân được coi là quyền đầu tiên của con người va các quyên nay tồn tại cho đến khi cá nhân chết.
Nguyên tắc bình đăng về mặt dân sự có nghĩa là mọi cá nhân đều có quyền nhân thân bình đẳng như nhau. Đây là một thực tế được pháp luật ghi nhận và bảo hộ chứ không được coi như là một khả năng tiềm tàng. (ii) Quyền nhân thân không thé bị định đoạt, không thé chuyển giao * “Khai niệm và phân loại quyền nhân thân”. Tạp chí Luật học số 07 năm 2009.
cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quyên nhân thân là những quyền thuộc vẻ riêng từng cá nhân nên không thê chuyên dich cho chủ thé khác và cũng không thé là đỗi tượng trong các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, có những hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân. Ví dụ: một số người nỗi tiếng đã ký hợp đồng cho phép các chủ thể khác sử dụng hình ảnh của mình để quảng cáo cho các sản phẩm hàng hóa hay các dịch vụ kinh doanh.
Liệu có sự mâu thuẫn giữa đặc điểm không thể định đoạt của quyền nhân thân với tình trạng giao dịch hợp đồng về hình ảnh ngày càng phát triển? Xu thé phát triển của pháp luật hiện đại đã thừa nhận quá trình phát triển của quyền nhân thân: từ quyền nhân thân cơ sở (tức quyền nhân thân gốc: quyền đối với họ tên, hình ảnh của cá nhân) đã hình thành quyền nhân thân phát sinh (quyền khai thác danh tiếng của một cá nhân với mục đích thương mai). Quyền nhân thân là một thuộc tính gắn liền với mỗi cá nhân từ khi sinh ra cho đến khi chết di và về nguyên tắc không được dịch chuyên cho cá nhân khác, ngay cả sau khi đã chết. Tuy nhiên, tính chất không thê chuyển giao này chỉ có tính tương đối.