Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Thủ tục giải quyết các yêu cầu về xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân" do sinh viên Nguyễn Việt Dương (mã sinh viên: 453432) thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Phương Thảo, thuộc chuyên ngành Luật Tố tụng Dân sự (Hà Nội, năm 2024).
Bối cảnh thực tiễn được tác giả đặt ra xuất phát từ nhu cầu tham gia vào các quan hệ giao dịch dân sự ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội. Để bảo đảm trật tự pháp lý và quyền lợi của các bên, chủ thể tham gia giao dịch phải đáp ứng các điều kiện nhất định về thể lực và trí tuệ. Khi một cá nhân rơi vào tình trạng suy giảm nhận thức do bệnh tâm thần, tai nạn, thương tích hoặc phụ thuộc vào chất kích thích, ma túy, các hành vi giao dịch của họ có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản của gia đình và quyền lợi của các chủ thể liên quan. Nhằm hạn chế và loại bỏ rủi ro, pháp luật tố tụng dân sự đã thiết lập hành lang pháp lý để Tòa án xem xét, xác định năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) của cá nhân. Tuy nhiên, hệ thống quy định hiện hành vẫn bộc lộ những điểm thiếu sót, chồng chéo, tạo ra bất cập trong quá trình thụ lý và giải quyết trên thực tế.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Tác giả xác định 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, được phân nhóm theo văn bản:
- Về lý luận:
- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục xác định NLHVDS của cá nhân.
- Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thủ tục xác định NLHVDS.
- Về thực trạng pháp luật:
- Phân tích, đánh giá quy định pháp luật về thủ tục xác định người mất NLHVDS.
- Phân tích, đánh giá quy định pháp luật về thủ tục xác định người bị hạn chế NLHVDS.
- Phân tích, đánh giá quy định pháp luật về thủ tục xác định người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
- Về kiến nghị:
- Kiến nghị hoàn thiện một số quy định pháp luật về thủ tục giải quyết các yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân.
- Kiến nghị các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự về xác định NLHVDS của cá nhân tại Tòa án. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở thủ tục giải quyết cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015, gắn với thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021.
Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các khái niệm nền tảng của khoa học luật dân sự và luật tố tụng dân sự: khái niệm năng lực hành vi dân sự (Điều 19 BLDS 2015), khái niệm việc dân sự (VDS) phân biệt với vụ án dân sự (tính chất phi tranh chấp theo Điều 311 BLTTDS 2004 và các điều 27, 361 BLTTDS 2015), cùng ba trạng thái năng lực hành vi được quy định tại Điều 22, Điều 23 và Điều 24 BLDS 2015.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả trích dẫn và sử dụng gồm có:
- Sắc lệnh số 47-SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;
- Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1973 (chương III về người vô năng);
- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 07/12/1989;
- Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015;
- Bộ luật Tố tụng dân sự các năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) và 2015;
- Hiến pháp năm 2013 (khoản 3 Điều 107 về chức năng kiểm sát tư pháp);
- Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 44 về con dấu);
- Nghị định số 82/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành danh mục chất ma túy và tiền chất;
- Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BCA;
- Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp.
Tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh pháp luật, suy luận logic, thống kê tư pháp và phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ, bài báo chuyên ngành (của các tác giả Đỗ Văn Đại, Nguyễn Thị Kiều Trang, Nguyễn Thị Tú Anh, Thân Thị Ngọc Bích...), Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016-2020 và năm 2020 của Tòa án nhân dân Tối cao, cùng các quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự được công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết các yêu cầu về xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm pháp lý cốt lõi, đặc điểm, ý nghĩa và lịch sử hình thành của thủ tục này:
- Khái niệm và đặc điểm: Thủ tục giải quyết yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân là trình tự các công việc bắt buộc Tòa án phải thực hiện theo luật định nhằm làm rõ khả năng của cá nhân trong việc tham gia vào quan hệ pháp luật. Đây là thủ tục giải quyết việc dân sự, mang tính chất đặc thù là không có tranh chấp đối kháng quyền lợi giữa nguyên đơn và bị đơn. Thẩm quyền thuộc về Tòa án nhân dân theo loại việc (khoản 1 Điều 27 BLTTDS 2015), theo cấp (TAND cấp huyện theo khoản 2 Điều 35; TAND cấp tỉnh khi có đương sự ở nước ngoài hoặc ủy thác tư pháp theo điểm b khoản 1 Điều 37), và theo lãnh thổ (Tòa án nơi người bị yêu cầu cư trú, làm việc theo điểm a khoản 2 Điều 39).
- Ba nhóm chủ thể:
- Người mất NLHVDS (Điều 22 BLDS 2015): Người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi, được Tòa án tuyên bố trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
- Người bị hạn chế NLHVDS (Điều 24 BLDS 2015): Người nghiện ma túy hoặc chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản gia đình. Điều luật này không bắt buộc phải có kết luận giám định y khoa mà căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp.
- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 23 BLDS 2015): Điểm mới của BLDS 2015, áp dụng cho người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất hoàn toàn NLHVDS, bắt buộc dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần.
- Ý nghĩa: Thủ tục này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm cá nhân dễ bị tổn thương, ngăn ngừa hành vi lạm dụng hoặc xâm phạm tài sản, duy trì an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, đồng thời khuyến khích trách nhiệm cá nhân trong xã hội.
- Quá trình phát triển: Khóa luận chia lịch sử quy định thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn trước 1945 đến 1989: Giai đoạn đầu chưa định hình khái niệm riêng. Ở miền Nam, Bộ Dân luật Sài Gòn 1973 bước đầu ghi nhận chế định "người vô năng" và thủ tục "cấm quyền" tại Tòa sơ thẩm đối với người ngu độn, điên rồ, có sự tham gia của Công tố viên và yêu cầu niêm yết, đăng báo án văn trong 15 ngày.
- Giai đoạn từ 1990 đến 2004: Pháp lệnh năm 1989 gộp chung việc dân sự và vụ án dân sự. BLDS 1995 định nghĩa mất và hạn chế NLHVDS nhưng chưa có trình tự tố tụng riêng biệt.
- Giai đoạn từ 2005 đến nay: BLTTDS 2004 tách riêng Chương XXI quy định thủ tục tuyên bố mất, hạn chế NLHVDS. BLTTDS 2015 kế thừa và hoàn thiện tại Chương XXXIV (các điều từ 376 đến 380), bổ sung thủ tục đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và thủ tục hủy bỏ quyết định đã tuyên.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục giải quyết các yêu cầu về xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Chương 2 phân tích chi tiết quy trình tố tụng giải quyết yêu cầu sơ thẩm qua bốn giai đoạn:
- Nhận và thụ lý đơn yêu cầu (Điều 362, 363, 364, 365 BLTTDS 2015): Tòa án kiểm tra điều kiện thụ lý gồm tư cách chủ thể nộp đơn (người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan; riêng trường hợp khó khăn nhận thức thì chính cá nhân đó cũng có quyền nộp đơn). Hồ sơ phải đính kèm chứng cứ (giấy khai sinh, căn cước công dân, kết luận chuyên môn, bệnh án, xác nhận thân nhân). Nếu đơn chưa đủ nội dung, Thẩm phán thông báo sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày; hết hạn không sửa đổi thì trả lại đơn. Đương sự nộp tạm ứng lệ phí trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận thông báo. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý, Tòa án thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp. Tác giả lưu ý bất cập: Điều 363 chưa quy định việc chuyển đơn khi nhận đơn không thuộc thẩm quyền, và Điều 364, 365 dùng chủ ngữ chung "Tòa án" mà không quy định đích danh Thẩm phán.
- Chuẩn bị xét đơn yêu cầu (Điều 366, 377 BLTTDS 2015): Thời hạn chuẩn bị là 01 tháng kể từ ngày thụ lý, có thể kéo dài không quá 01 tháng nếu chưa có kết quả giám định, định giá tài sản. Thẩm phán có quyền yêu cầu bổ sung chứng cứ (thời hạn đương sự thực hiện là 05 ngày làm việc), trưng cầu giám định pháp y tâm thần hoặc sức khỏe, lấy lời khai người làm chứng, thân nhân và cơ quan quản lý đăng ký tài sản. Tòa án đình chỉ giải quyết nếu người yêu cầu rút đơn, hoặc ra quyết định mở phiên họp khi đủ điều kiện.
- Phiên họp xét đơn yêu cầu (Điều 366, 367, 369 BLTTDS 2015): Phiên họp phải được mở trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp. Thành phần tiến hành phiên họp gồm một Thẩm phán (khoản 2 Điều 67) và Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Theo khoản 1 Điều 367 BLTTDS 2015 (thể chế hóa Kết luận 79-KL/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị), trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp, nhằm tránh kéo dài thời gian giải quyết gây ảnh hưởng đến quyền lợi đương sự. Trình tự phiên họp thực hiện qua các bước: Thư ký kiểm tra sự có mặt; Thẩm phán khai mạc, giải thích quyền nghĩa vụ; nghe người yêu cầu trình bày; người làm chứng, người giám định giải thích chuyên môn; Thẩm phán xem xét chứng cứ; Kiểm sát viên phát biểu ý kiến bằng văn bản; Thẩm phán ra quyết định chấp nhận hoặc bác đơn.
- Quyết định giải quyết (Điều 370, 378 BLTTDS 2015): Văn bản quyết định thể hiện toàn bộ nhận định, căn cứ pháp luật và nội dung tuyên bố. Quyết định không có hiệu lực thi hành ngay mà chỉ phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định mà không có kháng cáo, kháng nghị.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục giải quyết các yêu cầu về xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Chương 3 tổng kết số liệu xét xử và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật:
- Số liệu ngành Tòa án: Theo Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016-2020 của TANDTC, các Tòa án đã thụ lý 1.472 vụ việc (tăng 523.966 vụ việc so với nhiệm kỳ trước) và giải quyết, xét xử được 1.684 vụ việc (đạt tỷ lệ 97,3%). Riêng năm 2020, TAND các cấp đã thụ lý 471.581 vụ việc, giải quyết xét xử 419.793 vụ việc (đạt tỷ lệ 89,02%); trong đó nhóm việc dân sự thụ lý 448.025 việc, giải quyết 400.651 việc (đạt tỷ lệ 89%). Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy là 0,64% và bị sửa là 1,2%.
- Thống kê các quyết định về NLHVDS: Từ ngày 01/01/2018 đến ngày 01/01/2021, Cổng thông tin điện tử TANDTC công bố 1.957 quyết định giải quyết yêu cầu tuyên bố và yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố NLHVDS của cá nhân.
- Phân tích 3 quyết định sơ thẩm cụ thể:
- Quyết định số 03/2021/QĐST-VDS ngày 22/01/2021 của TAND quận Tây Hồ (Hà Nội): Chấp nhận đơn của ông Hồ Văn P, tuyên bố anh Hồ Ngọc Q mất NLHVDS dựa trên Biên bản giám định số 01/2021/KLGĐ ngày 13/01/2021 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương kết luận anh Q mắc tâm thần phân liệt thể di chứng (mã F20 theo ICD-10 năm 1992), mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi.
- Quyết định số 09/2020/QĐDS-ST ngày 22/12/2020 của TAND huyện Phú Tân (Cà Mau): Chấp nhận đơn của ông Nguyễn Văn T, tuyên bố cha đẻ là ông Nguyễn Văn TI bị hạn chế NLHVDS dựa trên Kết luận giám định số 187/2019/KLGĐYC ngày 13/09/2019 của Trung tâm Pháp y tâm thần kết luận ông TI bị rối loạn hoang tưởng, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi; đồng thời chỉ định ông T làm người giám hộ theo Điều 57, 58 BLDS 2015.
- Quyết định số 02/2021/QĐST-DS ngày 08/02/2021 của TAND quận Thanh Khê (Đà Nẵng): Chấp nhận đơn của bà Phạm Thị H, tuyên bố ông Huỳnh Đ có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dựa trên Kết luận giám định số 97/KLGĐ ngày 25/02/2021 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung xác định ông Đ mắc bệnh tâm thần phân liệt không thể biệt định (F20.32); chỉ định anh ruột là ông Huỳnh Thanh T làm người giám hộ.
- Hạn chế và kiến nghị: Tác giả chỉ ra các khoảng trống lập pháp: BLDS 2015 chưa định nghĩa rõ danh mục "chất kích thích khác" và tiêu chí "phá tán tài sản" trong Điều 24; thiếu quy định chuyển đơn tại Điều 363 BLTTDS 2015; chưa cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân Thẩm phán tại Điều 364, 365; và chưa liệt kê cụ thể các "cơ quan, tổ chức hữu quan" có quyền nộp đơn. Từ đó, tác giả đề xuất hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hướng dẫn áp dụng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa các quy định pháp luật thực định và phân loại rõ ràng căn cứ áp dụng đối với từng trạng thái NLHVDS:
| Tiêu chí so sánh |
Tuyên bố mất NLHVDS (Điều 22 BLDS) |
Tuyên bố hạn chế NLHVDS (Điều 24 BLDS) |
Tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 23 BLDS) |
| Căn cứ thực tế |
Bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác dẫn đến mất hoàn toàn nhận thức, làm chủ hành vi |
Nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến hành vi phá tán tài sản gia đình |
Người thành niên có khiếm khuyết thể chất/tinh thần chưa đến mức mất hoàn toàn NLHVDS |
| Chủ thể có quyền yêu cầu |
Người có quyền, lợi ích liên quan; cơ quan, tổ chức hữu quan |
Người có quyền, lợi ích liên quan; cơ quan, tổ chức hữu quan |
Chính người đó; người có quyền, lợi ích liên quan; cơ quan, tổ chức hữu quan |
| Yêu cầu giám định y khoa |
Bắt buộc phải có kết luận giám định pháp y tâm thần |
Luật không bắt buộc giám định; Tòa án xét chứng cứ tài liệu nộp |
Bắt buộc phải có kết luận giám định pháp y tâm thần |
| Hậu quả đối với giao dịch |
Mọi giao dịch do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện |
Tự xác lập giao dịch sinh hoạt hàng ngày; giao dịch tài sản phải có sự đồng ý của người đại diện |
Tòa án chỉ định người giám hộ, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của người giám hộ |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp dưới góc độ trình tự, thủ tục tố tụng sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo BLTTDS 2015. Tác giả đã phát hiện và kiến nghị sửa đổi các điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp: bổ sung quy định chuyển đơn tại Điều 363 BLTTDS 2015, cụ thể hóa trách nhiệm của Thẩm phán tại Điều 364 và 365, ban hành danh mục chất kích thích và tiêu chí xác định hành vi phá tán tài sản trong giải quyết việc hạn chế NLHVDS.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có hạn chế nhất định về phạm vi khi tác giả chủ động giới hạn nghiên cứu ở thủ tục sơ thẩm, chưa đi sâu vào thủ tục phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm và thủ tục giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố tình trạng NLHVDS. Ngoài ra, do ngành Tòa án chưa có hệ thống báo cáo thống kê độc lập cho riêng nhóm việc xác định NLHVDS, tác giả phải thu thập số liệu gián tiếp qua 1.957 quyết định công bố trên cổng thông tin trong giai đoạn từ 01/01/2018 đến 01/01/2021.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ nội dung văn bản bao gồm: hoàn thiện cơ chế giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố khi cá nhân hồi phục năng lực hành vi; nghiên cứu cơ chế giám sát thực thi quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được Tòa án chỉ định; và khảo sát toàn diện thực tiễn áp dụng thủ tục ở cấp phúc thẩm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Tố tụng Dân sự khi nghiên cứu về chế định việc dân sự và bảo vệ quyền công dân của nhóm người yếu thế. Công trình cũng có giá trị tham khảo chuyên môn cho Thư ký, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện và luật sư trong việc kiểm tra điều kiện thụ lý đơn, kỹ năng đánh giá kết luận giám định pháp y tâm thần và điều hành phiên họp giải quyết việc dân sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận chỉ ra điểm mới căn bản nào của BLDS 2015 và BLTTDS 2015 so với các quy định trước đây?
BLDS 2015 đã bổ sung Điều 23 quy định riêng về "Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi" thay vì chỉ có hai trạng thái mất hoặc hạn chế NLHVDS như BLDS 2005. Tương ứng, BLTTDS 2015 đã xây dựng Chương XXXIV bổ sung thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố và hủy bỏ quyết định tuyên bố đối với nhóm chủ thể này, đồng thời thay cụm từ "tổ chức giám định" thành "giám định pháp y tâm thần" tại Điều 22 BLDS 2015.
2. Tại sao BLTTDS 2015 không còn quy định bắt buộc phải hoãn phiên họp khi Kiểm sát viên vắng mặt?
Theo khoản 1 Điều 367 BLTTDS 2015 (thể chế hóa Nghị quyết 49-NQ/TW và Kết luận 79-KL/TW của Bộ Chính trị), Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. Việc bãi bỏ quy định hoãn phiên họp bắt buộc của luật cũ nhằm tránh kéo dài thời gian giải quyết việc dân sự, bảo đảm giải quyết nhanh chóng để bảo vệ quyền lợi của đương sự trong các quan hệ thừa kế, nhân thân và tài sản liên quan.
3. Tòa án dựa vào căn cứ nào để tuyên bố một người bị hạn chế NLHVDS theo Điều 24 BLDS 2015?
Tòa án căn cứ vào việc cá nhân nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến hành vi phá tán tài sản của gia đình, theo yêu cầu của người có quyền lợi liên quan hoặc cơ quan hữu quan. Khác với hai trường hợp còn lại, Điều 24 không quy định bắt buộc phải có kết luận giám định y tế mà dựa trên chứng cứ, tài liệu do người yêu cầu giao nộp.
4. Trong giai đoạn 2018 - 2021, có bao nhiêu quyết định về NLHVDS được công bố trên Cổng thông tin của TANDTC?
Theo thống kê được tác giả trích dẫn từ Cổng thông tin điện tử TANDTC (truy cập ngày 13/03/2024), từ ngày 01/01/2018 đến ngày 01/01/2021, cả nước có tổng cộng 1.957 quyết định giải quyết các yêu cầu về tuyên bố và yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố NLHVDS của cá nhân.
5. Kết luận giám định pháp y tâm thần thể hiện vai trò gì trong các vụ việc thực tế được khóa luận phân tích?
Kết luận giám định là chứng cứ có tính quyết định để Tòa án chấp nhận đơn. Cụ thể, TAND quận Tây Hồ dựa trên Kết luận số 01/2021/KLGĐ (xác định bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng F20 làm mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi) để tuyên anh Q mất NLHVDS; TAND quận Thanh Khê dựa trên Kết luận số 97/KLGĐ (bệnh tâm thần phân liệt không thể biệt định F20.32 gây khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi) để tuyên ông Đ có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Việt Dương đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và các quy định pháp luật thực định về thủ tục giải quyết yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân theo BLTTDS 2015 và BLDS 2015. Thông qua việc phân tích số liệu xét xử và các quyết định sơ thẩm cụ thể, đề tài chỉ ra những bất cập trong quy định về xử lý đơn, thẩm quyền Thẩm phán và căn cứ giám định người nghiện chất kích thích. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất góp phần bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng tố tụng và tăng cường bảo vệ quyền công dân trong thực tiễn tư pháp.