CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG DIGITAL MARETING CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Marketing là gì? Cho đến nay nhiều người vẫn lầm tưởng marketing với việc chào hàng (tiếp thị), bán hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ. Vì vậy, họ quan niệm marketing chẳng qua là hệ thống các biện pháp mà người bán sử dụng để cốt làm sao bán được hàng và thu được tiền về cho họ. Thậm chí, nhiều người còn đồng nhất marketing với nghề đi chào hàng, giới thiệu dùng thử hàng (nghề tiếp thị).
Thực ra tiêu thụ và hoạt động tiếp thị chỉ là một trong những khâu của hoạt động marketing. Hơn thế nữa, đó lại không phải là khâu quan trọng nhất. Một hàng hóa kém thích hợp với đòi hỏi của người tiêu dùng, chất lượng thấp, kiểu dáng kém hấp dẫn, giá cả đắt thì dù cho người ta có tốn bao nhiêu công sức và tiền của để thuyết phục khách hàng, việc mua chúng vẫn rất hạn chế. Ngược lại, nếu như nhà kinh doanh tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu của khách hàng, tạo ra những mặt hàng phù hợp với nó, quy định một mức giá thích hợp, có một phương thức phân phối hấp dẫn và kích thích tiêu thụ hiệu quả thì chắc chắn việc bán những hàng hóa đó sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Cách làm như vậy thể hiện sự thực hành quan điểm marketing hiện đại vào kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về marketing: Marketing là một tiến trình trong đó các doanh nghiệp sáng tạo ra các giá trị cho khách hàng và xây dựng cho mình những mối quan hệ mật thiết với khách hàng để từ đó thu lại lợi nhuận (Quan điểm của Philip Kotler và Gary Armstrong) – Nguồn: Slide Marketing Căn bản, ThS. Tống Viết Bảo Hoàng. Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến sản xuất và hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm SVTH: Nguyễn Thị Hoài 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Hoàng Long bảo cho công ty thu được lợi nhuận dự kiến ( Quan điểm của việc Marketing Anh). ) – Nguồn: Slide Marketing Căn bản, ThS. Tống Viết Bảo Hoàng. Marketing là hoạt động, tập hợp các tổ chức và các quá trình để tạo ra, truyền thông, phân phối và trao đổi những thứ có giá trị cho khách hàng, đối tác, xã hội nói chung (Quan điểm của hiệp hội Marketing Mỹ).
) – Nguồn: Slide Marketing Căn bản, ThS. Tống Viết Bảo Hoàng. Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thõa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thõa mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi (Quan điểm marketing hiện đại).
) – Nguồn: Giáo trình Marketing Căn bản, Trường đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội. Digital Marketing là gì? Theo Philip Kotler công bố năm 2015 tại đại học Northwestern thì digital marketing là tổ hợp các hoạt động marketing trên các kênh website, email, On-Ads, Pocastes, SEO, SEM, mobile marketing, social media…. Ngoài ra, khái niệm digital marketing còn được định nghĩa từ các đơn vị uy tín trên thị trường như: Digital marketing là chiến lược dùng internet làm phương tiện cho các hoạt động marketing và trao đổi thông tin – Asia Digital Marketing Association (Theo Vinahost). Digital marketing (hay còn gọi là tiếp thị kỹ thuật số), đây được coi là hình thức marketing phổ biến và hiệu quả mà mọi doanh nghiệp phải làm.
Đây có thể hiểu là hoạt động quảng cáo cho sản phẩm/thương hiệu, nhằm tác động đến nhận thức, quan tâm của khách hàng. Nói dễ hiểu hơn, digital marketing là các hoạt động SVTH: Nguyễn Thị Hoài 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Long marketing sản phẩm/dịch vụ mà có mục tiêu rõ ràng, có thể đo lường được, có tính tương tác cao có sử dụng công nghệ số (digital), kể cả TV, SMS, radio… để giữ chân khách hàng (Theo Admicro). Digital marketing hay còn được gọi là online marketing là một thuật ngữ dùng để chỉ những hoạt động marketing sử dụng công cụ kỹ thuật số để tiếp cận, quảng cáo và tiếp thị sản phẩm tới khách hàng thông qua sử dụng các kênh online như công cụ tìm kiếm, social media, email và website để có thể kết nối với khách hàng (Theo SeoNamNguyen).
Mỗi tác giả đều nói lên từng quan điểm riêng của mình về digital marketing. Trong phạm vi bài khóa luận của mình, tôi nhận thấy quan điểm “Digital marketing (hay còn gọi là tiếp thị kỹ thuật số), đây được coi là hình thức marketing phổ biến và hiệu quả mà mọi doanh nghiệp phải làm. Đây có thể hiểu là hoạt động quảng cáo cho sản phẩm/ thương hiệu, nhằm tác động đến nhận thức, quan tâm của khách hàng. Nói dễ hiểu hơn, Digital Marketing là các hoạt động marketing sản phẩm/dịch vụ mà có mục tiêu rõ ràng, có thể đo lường được, có tính tương tác cao có sử dụng công nghệ số (digital), kể cả TV, SMS, radio… để giữ chân khách hàng’’ của Admicro là phù hợp và tổng quát hơn cả đối với hoạt động digital marketing của ngân hàng thương mại.
Vì vậy với đề tài này tôi xin lấy quan điểm trên làm nền tảng cho việc nghiên cứu của mình. Đâu là sự khác biệt giữa digital marketing và marketing truyền thống? - Sự giống nhau: Mục tiêu hướng đến là nhằm thoả mãn nhu cầu khách hàng. Những chiến dịch marketing được đề ra nhằm thu hút khách hàng tiềm năng và tạo mối quan hệ lâu dài. Hiệu quả của chiến lược marketing mang lại cho doanh nghiệp lợi nhuận và định vị thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường.
- Sự khác nhau: Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa Marketing truyền thống và Digital Marketing SVTH: Nguyễn Thị Hoài 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Long Đặc điểm Marketing truyền thống Digital Marketing Sử dụng Internet và trên các thiết Chủ yếu sử các phương tiện Phương thức bị số hóa, không phụ thuộc vào truyền thông đại chúng các hãng truyền thông. Bị giới hạn bởi biên giới quốc Không bị giới hạn bởi biên giới Không gian gia và vùng lãnh thổ. quốc gia và vùng lãnh thổ.
Mất một thời gian dài để khách Khách hàng tiếp nhận thông tin và Phản hồi hàng tiếp cận phản hồi ngay lập tức. Có thể chọn được đối tượng cụ Không chọn được một nhóm Khách hàng thể, tiếp cận trực tiếp với khách đối tượng cụ thể. Chi phí thấp, với ngân sách nhỏ Chi phí cao, ngân sách quảng vẫn được và có thể kiểm soát Chi phí cáo lớn, được án định dùng một được chi phí quảng cáo (Google lần Ads) Lưu trữ thông tin khách hàng dễ Lưu trữ Rất khó lưu trữ thông tin khách dàng nhanh chóng, sau đó gửi thông tin hang thông tin, liên hệ trực tiếp tới đối tượng khách hàng. Nguồn: Inspirdo Edocation SVTH: Nguyễn Thị Hoài 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Các kênh digital marketing Digital marketing gồm hai kênh chính là digital online marketing và digital offiline marketing. Digital online marketing a. SEM – Searcgh engine marketing Trong SEM bao gồm 2 kênh chính là SEO và PPC. Search engine optimization (SEO) Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) là quá trình ảnh hưởng đến khả năng hiển thị trực tuyến của một website hoặc một trang web trong “kết quả chưa thanh toán” của một công cụ tìm kiếm web.
Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm là tập hợp các phương pháp nhằm nâng cao thứ hạng của một website trong các trang kết quả của các công cụ tìm kiếm (phổ biến nhất là Google). Các phương pháp đó bao gồm việc tối ưu hóa website và xây dựng các liên kết đến trang để các công cụ tìm kiếm chọn lựa trang web phù hợp nhất phục vụ người tìm kiếm trên internet ứng với một từ khóa cụ thể được người dùng truy vấn. Ba loại SEO phổ biến đó là: Technical SEO: Loại SEO này tập trung vào phần phụ trợ của trang web và cách các trang của công ty được mã hóa. Nén hình ảnh, dữ liệu có cấu trúc và tối ưu hóa tệp CSS (Cascading Style Sheets) là tất cả các hình thức SEO kỹ thuật có thể tăng tốc độ tải trang web– một yếu tố xếp hạng quan trọng trong mắt các công cụ tìm kiếm như Google.
On-page SEO: Loại SEO này tập trung vào tất cả các nội dung tồn tại “trên trang” khi xem trang web. Bằng cách nghiên cứu từ khóa cho hành vi tìm kiếm và ý định (hoặc ý nghĩa) của chúng. Công ty có thể trả lời câu hỏi cho người đọc và xếp hạng cao hơn trên các trang kết quả của công cụ tìm kiếm (SERPs – Search Engine Results Pages) mà những câu hỏi đó tạo ra. SVTH: Nguyễn Thị Hoài 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Hoàng Long Off-page SEO: Loại SEO này tập trung vào tất cả các hoạt động diễn ra “ngoài trang” khi tìm cách tối ưu hóa trang web. Có tên gọi là liên kết ngược (Backlink). Số lượng nhà xuất bản liên kết với công ty và “quyền hạn” tương đối của những nhà xuất bản đó, ảnh hưởng đến mức độ xếp hạng của công ty đối với các từ khóa quan tâm. Bằng cách kết nối với các nhà xuất bản khác, viết bài đăng của khách trên các trang web này (và liên kết trở lại trang web của công ty) và tạo sự chú ý bên ngoài.
Công ty có thể kiếm được các liên kết ngược mà công ty cần để đưa trang web lên trên tất cả các SERPs phù hợp. Trước khi quyết định mua hàng, phần lớn khách hàng đều tìm kiếm kết quả trên google. Thông thường, họ chỉ nhìn vào trang đầu của kết quả tìm kiếm. Do vậy, việc website của công ty nằm trên trang 1 của google giống như công ty xuất trước mắt khách hàng khi họ đang có nhu cầu mua hàng.
Vì vậy, việc tối ưu công cụ tìm kiếm (SEO) sẽ mang lại một số lợi ích sau: - Có được khách hàng tự động, đều đặn mỗi ngày, ngay cả khi đang ngủ. - Khách hàng tự đến và doanh nghiệp không mất phí cho việc marketing sai đối tượng. - Xuất hiện đúng lúc khách hàng đang có nhu cầu, nên cơ hội bán dược hàng là rất lớn. Thông thường từ khóa càng dài thì tỷ lệ mua hàng càng cao.
- Việc xuất hiện trên 1 trang Google với nhiều từ khóa khác nhau sẽ làm tăng uy tính tên miền, từ đó tăng giá trị thương hiệu cho doanh nghiệp. - SEO gần như là miễn phí. Chi phí duy nhất mà chúng ta phải trả đó là thời gian. - Gia tăng doanh thu và lợi nhuận.