Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng Để làm rõ khái niệm tội gây rối trật tự công cộng, trước hết, cần nghiên cứu khái niệm hành vi gây rối trật tự công cộng. Theo từ điển Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam thì “Trật tự công cộng là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo. Trật tự công cộng là một mặt của trật tự, an toàn xã hội và có nội dung bao gồm những quy định chung về trật tự, vệ sinh, văn hóa; sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận; tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi.” Nói một cách ngắn gọn về mặt pháp lý, “trật tự công cộng là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật và các nội quy, quy tắc về trật tự chung, an toàn chung, mà đòi hỏi mọi thành viên của xã hội phải tuân theo những quy định chung đó nhằm đảm bảo cho cuộc sống, lao động, sinh hoạt bình thường của mọi người trong xã hội.” Như vậy, trật tự công cộng có nội hàm rộng, tất cả những gì thuộc về trật tự chung, an toàn chung, vệ sinh chung, mỹ quan chung đều là trật tự công cộng.
Vì thế, hành vi gây rối trật tự công cộng có thể hiểu là nhóm các hành vi xâm phạm trật tự công cộng, vi phạm quy tắc xử sự được đặt ra cho mỗi con người ở nơi công cộng, xâm phạm tình trạng ổn định của sinh hoạt chung xã hội. Một cách cụ thể hơn, hành vi gây rối trật tự công cộng có thể là các hành vi xâm phạm đến con người, đến quyền hoặc lợi ích hợp pháp của con người; hoặc xâm phạm đến sở hữu và diễn ra tại nơi công cộng. Trong đó, nơi công cộng được hiểu là những địa điểm “kín” (rạp hát, siêu thị .) hoặc “mở” (sân vận động, công viên, quảng trường, đường phố, chợ .) mà ở đó các hoạt động chung xã hội được diễn ra thường xuyên hoặc không thường xuyên. 7 Biểu hiện cụ thể của hành vi gây rối trật tự công cộng có thể là: Lời nói, cử chỉ thiếu văn hóa xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của một hoặc nhiều người; hành vi phá phách hoặc làm ô uế các công trình, thiết bị ở nơi công cộng; hò hét, tạo tiếng động gây ầm ĩ, gây náo loạn, gây nên xáo trộn, hoảng sợ cho những người xung quanh; đua xe trái phép; hành hung người làm nhiệm vụ hoặc người tự nguyện tham gia bảo vệ trật tự nơi công cộng; tụ tập ẩu đả, đánh nhau ở nơi công cộng.
Tóm lại, hành vi gây rối trật tự công cộng rất dễ được bắt gặp trong cuộc sống hằng ngày. Thế nhưng, hành vi gây rối trật tự công cộng có thể là hành vi vi phạm pháp luật hoặc là hành vi phạm tội. Hành vi vi phạm, xâm hại trật tự công cộng do pháp luật được đặt ra mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì chỉ được xem là vi phạm hành chính, còn “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. [24, Điều 8] Tuy nhiên, trong thực tiễn có những trường hợp rất khó phân biệt hành vi vi phạm hành chính và tội phạm, bởi vì vi phạm hành chính và tội phạm có những điểm rất giống nhau, trong nhiều trường hợp giữa vi phạm hành chính và tội phạm chỉ là một ranh giới mỏng manh mà vượt qua nó là vi phạm hành chính có thể chuyển đổi thành tội phạm trong những điều kiện nhất định.
Dù vậy, để phân biệt được hành vi gây rối trật tự công cộng là hành vi vi phạm hay tội phạm, chúng ta có thể dựa vào những đặc điểm sau: mức độ nguy hiểm cho xã hội, đối tượng bị xử phạt, cơ quan có thẩm quyền xử lý, thủ tục xử lý. Thêm vào đó, chế tài xử lý vi phạm hành chính có mức độ nhẹ hơn nhiều so với các chế tài hình sự. Chế tài hành chính chủ yếu đánh vào yếu tố vật chất, tinh 8 thần của người vi phạm (cảnh cáo, phạt tiền .), trong khi đó, chế tài hình sự phần nhiều bao gồm cả những hình phạt tước đoạt hoặc không tước đoạt tự do của người phạm tội. Theo quy định của điểm b Khoản 1 Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; giao thông đường bộ; giao dịch điện tử; bưu chính; có thể bị phạt tiền đến 40 triệu đồng [27, Điều 24].
Trong khi đó, nhìn nhận hành vi gây rối trật tự công cộng dưới góc độ tội phạm, thì tội gây rối trật tự công cộng được chính thức quy định trong luật hình sự Việt Nam kể từ khi có BLHS năm 1985. Trước đó, luật hình sự Việt Nam cũng đã coi hành vi thuộc loại này là tội phạm nhưng chưa có tên gọi như trong BLHS. BLHS hiện hành quy định tội gây rối trật tự công cộng tại Điều 245 như sau: Điều 245: Tội gây rối trật tự công cộng 1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a. Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách; b. Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng; d. Xúi giục người khác gây rối; đ.
Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng; e. Tái phạm nguy hiểm.” Trong quy định của điều luật đã bao gồm luôn định nghĩa: “Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. 9 Như vậy, có thể đưa ra khái niệm như sau: Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, hành vi xâm hại trật tự an toàn công cộng, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn công cộng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Từ khái niệm nêu trên, có thể đưa ra các đặc trưng cơ bản của tội gây rối trật tự công cộng như sau: Một là, tội gây rối trật tự công cộng nằm trong nhóm tội xâm phạm đến an toàn công cộng, đến các quy tắc đi lại, làm việc, sinh hoạt, vui chơi, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng.
Trong nhiều trường hợp hành vi gây rối trật tự công cộng còn đe dọa đến tài sản của Nhà nước, tổ chức, công dân; sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Hai là, tội gây rối trật tự công cộng là hành vi hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động bình thường ở những nơi công cộng, gây thiệt hại hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn công cộng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Ba là, tội gây rối trật tự công cộng do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi với hình thức cố ý trực tiếp. Bốn là, người thực hiện tội gây rối trật tự công cộng không có mục đích chống chính quyền nhân dân.
Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm khác Qua thực tế xét xử đối với các tội có liên quan đến trật tự an toàn công cộng, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, còn khá nhiều sự nhầm lẫn giữa tội gây rối trật tự công cộng với một số tội khác như tội bạo loạn, tội phá rối an ninh, tội đua xe trái phép, tội chống người thi hành công vụ. Vì vậy, khoa học luật hình sự cần xây 10 dựng các tiêu chí cơ bản phân biệt các tội phạm này với nhau nhằm tránh nhầm lẫn, giúp cho việc định tội danh được chính xác, đảm bảo sự công minh của pháp luật. Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội bạo loạn Như chúng ta đã biết, mặc dù thuộc hai nhóm tội khác nhau được quy định trong BLHS nhưng tội bạo loạn và tội gây rối trật tự công cộng có những dấu hiệu tương đồng nhất định nên công việc phân biệt hai tội trên là rất cần thiết cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tội bạo loạn được quy định tại Điều 82 BLHS 1999.
Ở cấu thành cơ bản của tội bạo loạn, hành vi của tội này được mô tả là hoạt động vũ trang hay dùng bạo lực có tổ chức nhằm mục đích là chống chính quyền nhân dân. Như vậy, cả hai hành vi này đều gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an ninh, an toàn xã hội.