Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Trước khi tìm hiểu khái niệm về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm sau về: mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, phương tiện điện tử, dữ liệu, thương mại điện tử, chiếm đoạt tài sản. - Mạng máy tính: là tập hợp nhiều máy tính kết nối với nhau, có thể chia sẽ dữ liệu cho nhau.
- Mạng viễn thông: là một tập hợp các thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông. Mạng viễn thông gồm có: Mạng viễn thông công cộng, mạng viễn thông riêng, mạng nội bộ. - Mạng Internet: là một hệ thống các mạng máy tính liên kết toàn cầu sử dụng chuẩn Internet Protocol Suite (TCP/IP) để phục vụ hàng tỷ người dùng trên khắp thế giới. Nó là mạng của các mạng, bao gồm hàng triệu mạng cá nhân, mạng cộng đồng, trường đại học, doanh nghiệp, chính phủ, từ từng địa phương đến phạm vi toàn cầu, liên kết với nhau.
Internet chứa đựng phạm vi nguồn thông tin và dịch vụ vô cùng lớn, như World Wide Web (WWW) và hạ tầng hỗ trợ sử dụng thư điện tử (http://en Wikipedia.org/wiki/Internet). Theo quy định tại Điều 3 Luật viễn thông năm 2018 thì mạng Internet còn được hiểu là hệ thống thông tin toàn cầu sử dụng giao thức Internet và tài nguyên Internet đi cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho người sử dụng dịch vụ viễn thông. 8 - Phương tiện điện tử: là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự như: Điện thoại, máy tính. - Tội phạm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của BLHS phải bị xử lý hình sự.
- Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, hay còn gọi là tội phạm công nghệ cao. Dựa vào khái niệm tội phạm được quy định trong BLHS, có thể đưa ra khái niệm về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do một người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi thực hiện với lỗi cố ý bằng việc sử dụng phương tiện phạm tội là mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử nhằm xâm phạm và phá vỡ hoạt động cùng với sự an toàn của hệ thống công nghệ thông tin được pháp luật hình sự bảo vệ, qua đó xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ. Dấu hiệu pháp lý của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tại Điều 290 về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau: 1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các 9 trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; b) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; d) Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản; đ) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Có tính chất chuyên nghiệp; d) Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ; đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000 đồng đến dưới 200.000 đồng; e) Gây thiệt hại từ 50.000 đồng đến dưới 300.000 đồng; g) Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000 đồng đến dưới 500.000 đồng; b) Gây thiệt hại từ 300.000 đồng đến dưới 500.000 đồng; c) Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: 10 a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000 đồng trở lên; b) Gây thiệt hại 500.000 đồng trở lên; c) Số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 290 BLHS năm 2015 là căn cứ pháp lý để làm rõ cấu thành tội phạm của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phân biệt tội phạm này với những tội phạm khác. Đây là căn cứ pháp lý để Tòa án quy kết người nào đó có phạm tội Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản hay không. Khoa học pháp lý về hình sự xác định “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” có 04 yếu tố cấu thành tội phạm, đó là: khách thể của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm. Bốn yếu tố cấu thành tội phạm này có mối liên hệ mật thiết, bổ trợ lẫn nhau, cụ thể như sau: 1.
Khách thể của tội phạm: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tại Chương XXI - Các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Như vậy, có thể thấy việc sắp xếp tội trên trong Bộ luật Hình sự Việt Nam phản ánh khách thể của tội phạm này nằm trong khách thể loại của nhóm tội an toàn công cộng, trật tự công cộng. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là xâm phạm hoạt động bình thường của hệ thống công nghệ thông tin và còn xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về lợi ích vật chất cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Như vậy, khách thể trực tiếp của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là xâm phạm sự an toàn của hệ thống công nghệ thông tin (an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin) và qua đó xâm hại quan hệ sở hữu của người khác.
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là người có đầy đủ năng lực chịu TNHS và đạt độ tuổi do luật định. BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có nhiều quy định sửa đổi quan trọng về chủ thể tội phạm, trong đó có quy định về TNHS theo độ tuổi và TNHS của pháp nhân thương mại. Những sửa đổi này liên quan trực tiếp đến việc xác định TNHS của người thực hiện hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Theo quy định tại Điều 12 BLHS thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Điều luật cũng đã cụ thể các tội phạm mà người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, chủ thể của tội này là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 về phạm vi chịu trách nhiệm của pháp nhân thương mại thì pháp nhân thương mại chỉ chịu TNHS với 32 tội danh.