Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội đánh bạc theo pháp luật Hình sự Việt Nam. Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành tội đánh bạc từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang. Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về tội đánh bạc. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI ĐÁNH BẠC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1, Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý tội đánh bạc 1.1 Khái niệm tội đánh bạc.
Hành vi đánh bạc được xem là tội phạm từ khi Nhà nước ta ban hành Sắc lệnh số 168-SL ngày 14/4/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa về việc ấn định cách trừng trị tội đánh bạc. Kế đến, tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985. BLHS năm 1999 đã quy định theo hướng tách tội đánh bạc với tội tổ chức đánh bạc thành hai điều luật riêng, mà theo đó, tội đánh bạc được quy định tại Điều 248 và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc quy định tại Điều 249 BLHS. Do sự phát triển của tình hình kinh tế, xã hội nước ta nên ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thừ 5 Quốc hội khóa XII, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009, trong đó đã sửa đổi, bổ sung tội đánh bạc.
Nội dung sửa đổi, bổ sung Điều 248 BLHS chủ yếu mức tiền đánh bạc, còn về cơ bản các dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc được giữ nguyên. Tội đánh bạc” 1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên; c) Tái phạm nguy hiểm.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng. Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội đánh bạc a,. Khách thể của tội phạm. Khách thể của tội phạm nói chung là những mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.
Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, dễ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khác, như trộm cắp, cố ý gây thương tích, giết người nhằm cướp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì tội đánh bạc trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, cản trở việc tuân thủ các quy phạm pháp luật và quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tinh thần và cả vật chất của người dân trong xã hội. Đối với bản thân người đó, lúc nào cũng sống trong tình trạng lo âu, căng thẳng, chỉ nghĩ đến việc được thua, từ đó không có tinh thần nghĩ đến làm việc, cống hiến cho gia đình và xã hội. Đối với người thân, gia đình của những người đánh bạc, họ luôn sống trong nỗi lo âu, phiền muộn, lo lắng rằng người thân của mình ham mệ cờ bạc, lo lắng người thân của mình sẽ sa vào các tệ nạn xã hội hoặc trở thành tội phạm, vướng vào vòng lao lý. - Mặt khách quan của tội phạm.
Thứ nhất, về hành vi khách quan của tội phạm. Hành vi khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hành vi khách quan của tội đánh bạc cũng có những đặc điểm cơ bản chung là: Hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ; là hành vi trái pháp luật; là hoạt động có ý thức và ý chí. Đặc điểm của tội đánh bạc là mang tính nhiều người (ít nhất cũng phải từ hai người trở lên) tham gia thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào mang tính sát phạt, được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ năm triệu đồng trở lên.
Do vậy, dấu hiệu định lượng tài sản là dấu hiệu quan trọng và cơ bản nhất của tội đánh bạc. Như đã phân tích ở trên, trước đây hành vi đánh bạc chủ yếu được thể hiện dưới các hình thức như tổ tôm, xóc đĩa, bài tây, quy mô cũng khá đơn giản, tuy nhiên hiện nay những người phạm tội đánh bạc đã mở rộng hình thức, quy mô và phạm vi hơn rất nhiều so với trước đây, các hình thức phổ biến như: chơi số đề, cá độ bóng đá, chọi gà, cá độ 7 đua ngựa, đua xe…, hơn nữa thủ đoạn phạm tội cũng rất tinh vi, phạm vi không chỉ gói gọn trong một địa phương mà thậm chí là kết nối nhiều tỉnh thành với nhau hoặc ra ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Phương thức thanh toán cũng đa dạng, có thể thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp hoặc chuyển khoản… Hiện nay, trước sự phát triển của công nghệ số, đã xuất hiện các hình thức đánh bạc thông qua các mạng internet, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử, đã xuất hiện phương thức thanh toán mới thông qua phương tiện điện tử hoặc dưới hình thức thẻ cào viễn thông hoặc thẻ thanh toán quốc tế… Hiện nay, Nhà nước cho phép người dân tham gia một số hình thức vui chơi, giải trí cũng có tính chất được thua bằng tiền hay hiện vật, nhưng không bị coi là hành vi phạm tội, cụ thể như chơi xổ số, casino, …. Như vậy, không phải bất kỳ hành vi nào có tính chất được thua bằng tiền hay hiện vật đều bị coi là hành vi phạm tội.
Tuy nhiên, trên thực tế, các đối tượng đánh bạc đã lợi dụng những hình thức được phép trên để thực hiện các hành vi, mục đích trái phép của mình. Thứ hai, về hậu quả của hành vi phạm tội. Theo quy định tại Điều luật, hậu quả của hành vi đánh bạc không phải là dấu hiệu bắt buộc và cũng không phải là yếu tố định khung hình phạt mà người phạm tội chỉ cần có hành vi đánh bạc trái phép là đã bị coi là vi phạm quy định tại Điều luật này. Trên thực tế, hành vi đánh bạc có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội như: vì đánh bạc mà mất khoản tiền lớn hoặc hiện vật có giá trị lớn, từ đó gia đình xung đột, tan cửa nát nhà, vì đánh bạc thua mà dẫn đến các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp giật, cố ý gây thương tích, giết người, gây rối trật tự công cộng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cho vay nặng lãi, … Khi đó, người phạm tội đánh bạc nếu vi phạm các tội như cố ý gây thương tích, giết người, … thì không chỉ phải chịu hình phạt đối với tội đánh bạc mà còn phải chịu hình phạt đối với các tội phạm khác.
Việc không quy định hậu quả của hành vi phạm tội trong Điều luật hoàn toàn dễ hiểu vì bản thân hành vi đó có thể không thực sự nguy hiểm nhưng nếu một người đã phạm tội này thì rất có thể sẽ phạm thêm các tội phạm khác nguy hiểm hơn rất nhiều lần. Do đó, việc ngăn chặn 8 hành vi đánh bạc trái phép ngay cả khi nó chưa gây ra hậu quả là điều đúng đắn và hết sức cần thiết. - Chỉ truy cứu trách nhiệm về tội này khi có một trong các điều kiện sau: + Được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên. + Đã bị kết án về tội này hoặc tội được quy định tại Điều 249 Bộ Luật Hình sự mà chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Điều 248 BLHS quy định “ người nào đánh bạc trái phép …” như vậy đây là một điểm mới được sửa đổi trong tôi đánh bạc, trước đây mọi hành vi đánh bạc đều bị coi là vi phạm pháp luật,tuy nhiên chúng ta vẫn thường thấy những sòng bạc ( casino) cho những người nước ngoài đánh bạc. Thực tiễn này làm tồn tại hành vi đánh bạc mà không bị xử lý mặc dù trái pháp luât. Theo quy định tại điều 248 BLHS sửa đổi thì hành vi đánh bạc không trái pháp luật cho phép mới cấu thành tội phạm, còn những hành vi được pháp luật cho phép, không trái pháp luật thì trách nhiệm pháp lý không đặt ra. * Chú ý: Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với đánh bạc cần lưu ý một số vấn đề sau: - Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự ( dưới 2 triệu đồng) và không thuộc các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa bị kết án về tội này hoặc điều 249 của BLHS thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.
- Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc hơn mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự ( từ hai triệu đồng trở lên) thì người đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó. - Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại Điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS. 9 - Trường hợp đánh bạc từ 5 lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của từng lần đánh bạc khác bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và lấy tiền,hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “ có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 BLHS.