Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG 1. Địa vị pháp lý của Ủy ban nhân dân phường 1. Khái niệm, vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân Phường a) Khái niệm Phường Phường là một thuật ngữ xuất hiện từ lâu đời ở nước ta, vào khoảng nửa cuối thế kỷ VI, do hình thành những trung tâm giao lưu kinh tế thương mại, chỉ những nơi làm ăn buôn bán đông vui, sầm uất. Theo từ điển Tiếng Việt: “Phường để chỉ một khối dân cư gồm những người làm cùng một nghề, một công việc đơn giản thời phong kiến, hoặc phường là đơn vị hành chính thấp nhất ở kinh đô Thăng Long; phường là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị tổ chức theo khu vực dân cư ở đường phố, dưới quận”.
Khái niệm “Phường” cũng đi liền với khái niệm “Đô thị”, chỉ nơi tập trung đông dân cư và là nơi trung tâm hành chính của bộ máy cai trị, nơi trung tâm kinh tế, chính trị của một quốc gia. Thông thường, ở đô thị, người ta dùng khái niệm “phường, tổ dân phố, khu phố, khu dân cư” để phân biệt khái niệm “xã, thôn, làng, ấp, bản”…chỉ nơi quần cư của cộng đồng dân cư ở nông thôn. Trong một số nghiên cứu về chính quyền đô thị ở Việt Nam có tác giả cho rằng thuật ngữ “phường” là thuật ngữ Hán Việt, được ghép từ hai chữ “thổ” và “phương” có nghĩa là khu đất được quy hoạch. Thuật ngữ này được sử dụng ở nước ta từ thời kỳ chống Bắc thuộc và đến năm 1230 nhà Trần đã chia Thăng Long thành 61 phường”.
Ủy ban nhân dân là một cơ quan hành chính nhà nước của hệ thống hành chính Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là cơ quan thực thi pháp luật tại các cấp: tỉnh, huyện, xã. Các chức danh của Ủy ban nhân dân 7 được Hội đồng nhân dân cấp tương ứng bầu ra và có nhiệm kỳ trùng với nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân. Người đứng đầu Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thường là Phó Bí thư Đảng ủy Đảng Cộng sản Việt Nam cấp tương ứng.
Quyền hạn của Ủy ban nhân dân được quy định tại Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2015. Ủy ban nhân dân các cấp có các cơ quan giúp việc như: Sở (cấp tỉnh), Phòng (cấp huyện), Ban (cấp xã). Theo Điều 110 Hiến pháp 2013, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Như vậy, phường là đơn vị hành chính cơ sở ở đô thị (thị xã, thành phố) Theo đặc điểm của loại thành phố, thị xã mà phường trực thuộc, có ba loại: - Thứ nhất, là phường thuộc quận ở các thành phố trực thuộc Trung ương (phường ở các quận nội thành Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ) - Thứ hai, là phường thuộc thành phố trực thuộc tỉnh (phường ở thành phố Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam, ở thành phố Quãng Ngãi thuộc tỉnh Quảng Ngãi, thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế,…) - Thứ ba, là phường thuộc các thị xã ở các tỉnh, thành phố (như phường thuộc thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, phường thuộc thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái,…) 8 Chính quyền địa phương ở phường là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân phường và Ủy ban nhân dân phường.
Chính quyền phường, theo nghĩa rộng có thể hiểu, bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước đóng trên địa bàn phường và hoạt động của các cơ quan này giới hạn trong phạm vi địa giới hành chính thuộc phường, trong từng đơn vị hành chính phường. Theo cách hiểu này, có thể thấy khái niệm chính quyền phường đồng nghĩa với khái niệm hệ thống các cơ quan nhà nước ở phường. Theo nghĩa hẹp, chính quyền phường bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước (Hội đồng nhân dân) do nhân dân phường trực tiếp bầu ra và cơ quan hành chính nhà nước (Ủy ban nhân dân) do Hội đồng nhân dân phường bầu ra. “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (Điều 113, Hiến pháp 2013).
“Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệmtrước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”. b) Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân phường Ủy ban nhân dân phường là cấp thấp nhất, gần dân nhất, chính vì vậy nó có vị trí, vai trò rất quan trọng trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước, đồng thời là thiết chế chi phối đời sống kinh tế - xã hội của các cộng đồng dân cư và của người trên địa bàn. Có thể nói Ủy ban nhân dân phường là trụ cột của hệ thống chính trị ở phường vì nó vừa là đại diện cho quyền lực của nhân dân trên địa bàn, được Hội đồng nhân dân bầu ra, thực hiện ý chí chung của nhân dân trên địa bàn. 9 Là cơ quan “chấp hành” của Hội đồng nhân dân phường, Ủy ban nhân dân phường có nghĩa vụ chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân phường, chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân phường, chịu sự kiểm tra, đôn đốc của Thường trực Hội đồng nhân dân phường.
Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Ủy ban nhân dân phường có trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trong phạm vi và mức độ được phân cấp, phân quyền, điều hành các quá trình kinh tế - xã hội, hành chính – chính trị ở địa phương dưới sự lãnh đạo chung của Chính phủ. Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và là một bộ phận trong hệ thống hành chính nhà nước thống nhất do Chính phủ lãnh đạo. Ủy ban nhân dân được tổ chức và hoạt động trong một chỉnh thể thống nhất của bộ máy quản lý hành chính nhà nước, có nhiệm vụ bảo đảm quan hệ quyền lực và hành chính được thực thi thống nhất và thông suốt trong phạm vi toàn quốc, theo nguyên tắc quyền uy và phục tùng: cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương. Ủy ban nhân dân là cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung, quản lý tất cả các lĩnh vực của quản lý nhà nước (nhưng với nội dung và cấp độ khác nhau).
Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân ban hành các quyết định, chỉ thị, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện văn bản đó. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân Phường - Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân phường quyết định các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 61 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 có nêu: Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, 10 quyền hạn của Hội đồng nhân dân phường và quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách phường; điều chỉnh dự toán ngân sách phường trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách phường. Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn phường theo quy định của pháp luật. Đồng thời tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường.
- Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương. - Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền. Mối quan hệ của Ủy ban nhân dân phường 1.1 Đối với Đảng ủy Các chủ trương, phương hướng, công tác tư tưởng, tổ chức cán bộ của chính quyền phường đều phải dựa trên phương hướng lãnh đạo của cấp ủy cơ sở. Trên cơ sở nghị quyết của cấp ủy cơ sở, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân chuyển tải thành nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân.
Trước khi thi hành chủ trương, nhiệm vụ của cấp trên giao thì Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân phường phải báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Đảng ủy, đặc biệt là những vấn đề đụng chạm tới tâm tư tình cảm, phong tục tập quán của nhân dân trên địa bàn phường. Hàng tuần, hàng tháng các đồng chí trong cấp ủy đều có hội ý trao đổi công tác với Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân, một mặt kịp thời nắm bắt diễn biến của địa phương, thực hiện chức năng kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của Đảng để từ đó tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp, sát với thực tế.2 Đối với Hội đồng nhân dân 11 Ủy ban nhân dân phường là một cơ quan trực thuộc Hội đồng nhân dân với nhiệm vụ chính là “chấp hành” Hội đồng nhân dân, được giao thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính Nhà nước ở phường. Cả hai cơ quan này đều thuộc cơ cấu chính quyền địa phương thống nhất, cùng có chức năng quản lý địa phương theo quy định của pháp luật, theo Điều 5 Luật tổ chức chính quyền địa phương thì Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, hiện đại, minh bạch phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số, còn Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể Ủy ban nhân dân kết hợp với trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.