phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tổ chức mạng lƣới đại lý khai thác trong doanh nghiệp Bảo Hiểm phi nhân thọ Chƣơng 2. Thực trạng tổ chức mạng lƣới đại lý khai thác ở Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex Chƣơng 3. Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức mạng lƣới đại lý khai thác tại Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC MẠNG LƢỚI ĐẠI LÝ KHAI THÁC TRONG DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Khái quát về hoạt động kinh doanh Bảo Hiểm phi nhân thọ 1. Khái niệm kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Có rất nhiều cách khái niệm về Bảo hiểm. Tùy thuộc vào quan niệm của từng lĩnh vực mà các khái niệm có một số điểm khác nhau: - Theo ủy ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa kỳ thì: Bảo hiểm là việc tập trung các tổn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao những rủi ro gây ra chúng cho những ngƣời bảo hiểm khi họ cam kết bồi thƣờng cho những tổn thất này, cung cấp các quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra, hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro.
- Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì: Bảo hiểm là sự thỏa thuận, qua đó một bên (Ngƣời bảo hiểm) cam kết sẽ thanh toán cho bên kia (Ngƣời đƣợc bảo hiểm hay ngƣời tham gia bảo hiểm), một khoản tiền nếu có sự cố xảy ra gây tổn thất về tài chính cho Ngƣời đƣợc bảo hiểm. Trách nhiệm thanh toán những tổn thất này đƣợc chuyển giao từ Ngƣời tham gia bảo hiểm đến Ngƣời bảo hiểm. Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, Ngƣời bảo hiểm đòi Ngƣời đƣợc bảo hiểm một khoản tiền đó là phí bảo hiểm. - Một cách toàn diện hơn ngƣời Pháp cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động, thông qua đó một cá hay một tổ chức có quyền đƣợc hƣởng bồi thƣờng hoặc chi trả nếu rủi ro xảy ra, nhờ vào khoản đóng góp cho mình hay cho ngƣời khác.
Khoản bồi thƣờng hoặc chi trả này do một tổ chức đảm nhiệm, tổ chức này có trách nhiệm trƣớc các rủi ro và bù trừ chúng theo quy luật thống kê. Dù BH đƣợc khái niệm bằng cách nào nhƣng nó đều thể hiện bản chất của BH nói chung đó là sự san sẻ rủi ro trên cơ sở số lớn của các cá nhân và tổ chức xã hội thông qua hoạt động của các tổ chức BH. Nói cách khác BH là phƣơng sách xử 7 lý tủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro trong từng nhóm ngƣời đƣợc thực hiện thông qua hoạt động kinh doanh của các DNBH. Đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ - Quá trình hoạt động KDBH phi nhân thọ, là quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ tiền tệ của các DNBH.
- Trên phƣơng diện xử lý rủi ro, BH là loại biện pháp rất có hiệu quả. Cơ chế hoạt động là chuyển giao, phân tán rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Cơ chế đó khiến cho việc gánh chịu rủi ro, đặc biệt là những rủi ro trầm trọng vƣợt quá khả năng chống đỡ của mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức trở nên dễ dàng hơn. - Đã có ý kiến cho rằng, ở một góc độ nào đó BH PNT là “kinh doanh rủi ro” điều này đúng nhƣng chƣa đủ.
Một trong những đặc điểm của BH PNT là chỉ nhận BH cho những rủi ro có thể xảy ra và gây thiệt hại đến tài sản, tính mạng, sức khỏe, mà không có tính chất tiết kiệm nhƣ BH nhân thọ. Điều đó cũng có nghĩa chỉ khi các rủi ro đƣợc BH gây thiệt hại cho ngƣời đƣợc BH thì mới đƣợc bồi thƣờng. Khi hết thời hạn BH mà không có rủi ro xảy ra thì ngƣời đƣợc BH hết quyền lợi và đƣơng nhiên sẽ không đƣợc trả lại số phí BH đã đóng. - Thời hạn của hợp đồng BH phi nhân thọ thƣờng là 01 năm hoặc ngắn hơn (ngoại trừ một số hợp đồng trong BH xây dựng lắp đặt có thời hạn theo thời gian xây dựng công trình).
Thậm chí có những hợp đồng BH chỉ có hiệu lực vài tháng (ví dụ BH hàng hoá xuất nhập khẩu), vài ngày ( BH vận chuyển hàng hóa, BH du lịch), hoặc chỉ và giờ ( BH tai nạn hành khách, BH du lịch). - Nếu BH nhân thọ áp dụng kỹ thuật tồn tích, thì bảo hiểm con ngƣời phi nhân thọ lại áp dụng kỹ thuật phân chia trong quản lý quỹ tài chính BH.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ - BH PNT góp phần đảm bảo ổn định đời sống, ổn định tài chính, từ đó ổn định về tinh thần cho ngƣời tham gia BH và mang lại sự an toàn cho xã hội. Khi gặp rủi ro thiên tai hay tai nạn bất ngờ, các cá nhân, DN sẽ bị tổn thất về kinh tế hoặc thiệt hại về ngƣời. Tổn thất đó sẽ đƣợc BH bồi thƣờng hoặc trợ cấp về tài chính, để ngƣời tham gia BH nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, khôi phục và 8 phát triển sản xuất kinh doanh.
Từ việc hỗ trợ tài chính, BH còn đáp ứng các nhu cầu về đảm bảo an toàn cho ngƣời tham gia BH, đƣa đến cho họ sự tin cậy về sự an toàn và một chỗ dựa tinh thần. - Do tính chất nghề nghiệp và xuất phát từ chính lợi ích của các DNBH phi nhân thọ, đòi hỏi họ phải có trách nhiệm nghiên cứu, đánh giá rủi ro, thống kê tai nạn, xác định các nguyên nhân và đề ra các biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa giảm thiểu rủi ro cho toàn xã hội. Để thực hiện điều đó, các DNBH PNT thƣờng xuyên tiến hành các hoạt động đề phòng hạn chế tổn thất giúp cho cuộc sống con ngƣời an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo của mỗi cá nhân mỗi DN. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối mỗi con ngƣời và toàn xã hội.
- Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động KDBH PNT là tạo lập, quản lý quỹ tài chính đủ lớn, nhằm chủ động đối phó với rủi ro và góp phần làm giảm “tổng rủi ro” của xã hội. Trong cuộc sống cũng nhƣ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi cá nhân hay tổ chức, DN khó mà xác định đƣợc có những rủi ro gì mà họ sẽ gặp phải và mức độ thiệt hại là nhƣ thế nào, bởi lẽ rủi ro luôn là ngẫu nhiên và bất ngờ. Vì vậy, họ khó có thể định trƣớc đƣợc kế hoạch tài chính để đối phó với những thiệt hại đó. Tuy nhiên, các DNBH có thể tính toán xác suất rủi ro trên cơ sở quy luật số lớn, từ đó có kế hoạch tài chính tƣơng đối phù hợp với những hậu quả của các rủi ro có thể gây nên.
- BH PNT là “tấm lá chắn” hữu hiệu cho các DN, thông qua việc ổn định giá thành sản phẩm. Thật vậy, khi không may gặp rủi ro bất ngờ, DN sẽ bị thiệt hại về tài chính và chắc chắn sẽ đẩy chi phí của DN tăng lên. Khi đó nếu giữ nguyên giá để cạnh tranh, thì sẽ bị giảm lợi nhuận thậm chí bị lỗ. Ngƣợc lại nếu tăng giá thì sẽ mất cạnh tranh về giá.
Tác động này là rất lớn nếu DN gặp những thiệt hại lớn do rủi ro. Đây là bài toán rất khó hóa giải, nhất là đối với các DN vừa và nhỏ có số vốn hạn chế dễ bị “chèn ép” về giá. Bài toán đó sẽ đƣợc các DNBH PNT hóa giải một cách đơn giản nếu các DN tham gia BH. - BH PNT góp phần ổn định chi tiêu ngân sách Nhà nƣớc.
Các tổ chức, đơn vị hoạt động bằng nguồn ngân sách Nhà nƣớc có thể tham gia BH. Thay vì bỏ ra số 9 phí BH “tƣơng đối nhỏ”, mà ngân sách Nhà nƣớc không phải chi ra số tiền có thể rất lớn để trợ cấp cho các thành viên khi gặp rủi ro. Mặt khác, BH PNT cũng còn đóng góp vào ngân sách Nhà nƣớc thông qua các loại thuế. - BH PNT có thể cung cấp một số vốn không nhỏ để đầu tƣ, phát triển kinh tế - xã hội.
Với đặc điểm trong KDBH: phí nộp trƣớc, việc bồi thƣờng, trả tiền BH chỉ phải thực hiện sau đó một thời gian. Vì vậy, lƣợng vốn phần lớn có thời gian tạm thời nhàn rỗi sẽ đƣợc đem đầu tƣ vào nền kinh tế. Thực tế ở nhiều quốc gia phát triển, các tổ chức BH hoạt động rất mạnh trên thị trƣờng bất động sản, thị trƣờng chứng khoán, đặc biệt là thị trƣờng vốn. Đóng vai trò là một rung gian tài chính, các tổ chức BH thu hút vốn, cung ứng vốn, thúc đẩy nhanh sự luân chuyển về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
- Bảo hiểm phi nhân thọ cũng góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nƣớc thông qua hoạt động tái BH. - Cuối cùng BH PNT là chỗ dựa tinh thần cho mọi cấ nhân, tổ chức xã hội; giúp họ yên tâm trong cuộc sống sinh hoạt và trong sản xuất kinh doanh. Bởi vì với một giá khiêm tốn (phí BH), BH PNT có thể giúp đỡ các gia đình các tổ chức, DN khắc phục những hậu quả khôn lƣờng mà rủi ro gây ra. - BH PNT- một trung gian tài chính trong thị trƣờng tài chính: Cũng nhƣ các thị trƣờng tài chính, các tổ chức tài chính trung gian thực hiện chức năng dẫn vốn từ ngƣời có vốn tới ngƣời cần vốn.
Không có trung gian tài chính, thị trƣờng tài chính không thể có lợi ích trọn vẹn, bởi lẽ nó thực hiện việc “ kết nối” những món tiền nhàn rỗi với những ngƣời đi vay một cách nhanh chóng, hiệu quả và an toàn nhất. Các doanh nghiệp BH, trong đó có DNBH phi nhân thọ là một trong những trung gian tài chính quan trọng trong thị trƣờng tài chính. Các DNBH phi nhân thọ thực hiện trung gian tài chính bằng tích tụ, tập trung một quỹ tiền tệ từ nguồn thu phí BH của khách hàng. Nguồn vốn này phần lớn là có thời gian tạm thời nhàn rỗi và dùng để đầu tƣ vào nền kinh tế dƣới các hình thức: Mua công trái, trái phiếu, cổ phiếu, đầu tƣ bất động sản, cho vay ủy thác….
Nhƣ vậy, các DNBH PNT đã góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy nhanh sự luân chuyển của vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Tổ chức mạng lƣới đại lý khai thác trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp Bảo Hiểm phi nhân thọ 1.