phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, các biểu đồ, bảng biểu, hệ thống các bản đồ, luận văn được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTKT. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện TCLTKT huyện Nông Cống. Chƣơng 3: Định hướng phát triển một số hình thức TCLTKT huyện Nông Cống đến năm 2030. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 1.
Cơ sở lí luận về TCLTKT 1. Quan niệm về TCLTKT Trong ngôn ngữ Việt Nam từ “tổ chức” vừa là danh từ vừa là động từ. Danh từ tổ chức được hiểu là “Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung”. Động từ tổ chức có nghĩa là “Làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định” [28, tr 1007].
Như vậy TCLTKT phải được hiểu trên cả hai phương diện danh từ và động từ. Tổ chức lãnh thổ không phải là một nhiệm vụ mới của nhân loại. Con người, từ khi xuất hiện, luôn tìm cách tổ chức không gian sống và không gian sản xuất của mình sao cho phù hợp với mục tiêu tồn tại và phát triển. Con đường tổ chức lãnh thổ của họ lúc đầu chỉ theo từng hoạt động riêng rẽ, cá biệt, về sau hành động tổ chức của họ phức tạp dần và tiến tới tổ chức các thể tổng hợp, các phức hợp lãnh thổ sản xuất, sinh hoạt và cư trú.
Tác giả Lê Thông và Nguyễn Minh Tuệ cho rằng “vấn đề TCLTKT hay tổ chức không gian các hoạt động của con người, trước hết là hoạt động kinh tế, bắt nguồn từ những cơ sở lí thuyết kinh tế của Adam Smith và David Ricardo, từ các công trình nghiên cứu của Thunen vào 1826, của Weber vào 1909 và một số tác phẩm khác, sau đó được phát triển về mặt lí luận và ứng dụng thực tiễn vào những năm 50 của thế kỉ XX tại các nước Châu Âu, Liên Xô (cũ) và Mỹ [15, tr 11]. Ở Liên Xô (cũ) TCLTKT được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của địa lí đã được nêu lần đầu tiên vào năm 1961 bởi Iu.Xauskin “lĩnh vực thực tiễn trực tiếp để tập trung nỗ lực của các nhà địa lí Xô Viết là TCLTKT lực lượng sản xuất (ở đây bao gồm cả sơ đồ lãnh thổ và các dự án cải tạo và sử dụng các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên)”. Những quan niệm về TCLTKT công nghiệp được trình bày trong các công trình của A. Thuật ngữ “TCLTKT sản xuất” được đưa vào trong các nghiên cứu của A.Skolnicov vào giữa thập kỉ 60 của thế kỉ XX [15, tr 16].
8 Các nhà khoa học Liên Xô (cũ) trước đây thường sử dụng khái niệm “phân bố lực lượng sản xuất”, nghĩa là phân bố sức sản xuất theo lãnh thổ. Nền tảng cơ sở lí luận của phân bố lực lượng sản xuất được bắt nguồn từ lí thuyết về chu trình năng lượng - sản xuất của N.Koloxopxki và thể tổng hợp lãnh thổ sản xuất của các nhà khoa học Xô Viết. Theo họ, phân bố lực lượng sản xuất được thực hiện trên các lãnh thổ cụ thể ở những cấp độ khác nhau, phổ biến là trên các vùng kinh tế cơ bản và vùng kinh tế hành chính tỉnh. Họ coi phân bố lực lượng sản xuất là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng hay thực thể vật chất cụ thể, hay đó là các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên đã được sử dụng vào hệ thống dân cư.
Các đối tượng này ảnh hưởng lẫn nhau, có liên hệ qua lại với nhau trong một lãnh thổ xác định, nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật của lãnh thổ để đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và nâng cao mức sống dân cư của lãnh thổ đó [15, tr 17]. Các nhà khoa học Xô Viết sau này phát triển phân bố lực lượng sản xuất theo hướng TCLTKT. Xauskin: Tổ chức xã hội theo lãnh thổ là tạo ra một hệ thống sử dụng đất đai do những tập đoàn người khác nhau. Hệ thống này làm cho các tập đoàn người ấy có thể cư trú được trên bề mặt trái đất, khai thác các tài nguyên thiên nhiên, phân bố các điểm dân cư, tái sinh sản nòi giống, phân bố các nguồn cung cấp nước và thực phẩm, các địa điểm sản xuất ra các công cụ lao động, quần áo, giày dép và các vật liệu khác cần thiết cho đời sống, phân bố xí nghiệp và khu vực chữa bệnh, nghỉ ngơi, khoa học, văn hóa, các nhà hát, rạp chiếu phim [31].
Các nhà khoa học phương Tây thường sử dụng thuật ngữ “tổ chức không gian kinh tế - xã hội”. Khái niệm tổ chức không gian ra đời cuối thế kỉ XIX và đã phát triển thành một khoa học về “thiết lập” trật tự kinh tế, xã hội, môi trường trong phạm vi một lãnh thổ xác định. Quan niệm về tổ chức không gian (TCLTKT) cũng được coi trọng trong địa lí Mĩ vào 1970 – 1971. Ở Mĩ có các công trình lớn của R.Gould “tổ chức không gian, cách nhìn thế giới của các nhà địa lí” và của R.Morill “Tổ chức không gian xã hội”.
Ở Anh, các quan niệm về TCLTKT - xã hội được phát triển theo hướng mô hình hóa, áp dụng các phương pháp định lượng. Có thể thấy tiêu biểu trong các công trình của Peter Haggett và các cộng 9 sự “Phân tích không gian trong địa lí kinh tế” xuất bản năm 1965, “các mô hình địa lí” xuất bản năm 1967 và “Địa lí học: một sự tổng hợp hiện đại” xuất bản năm 1975 [17, tr 389]. Theo Morrille (1970): Tổ chức không gian là khái niệm của loài người về sử dụng có hiệu quả không gian trên trái đất. Nhiều tác giả Pháp như P.
cho rằng: tổ chức không gian là sự tìm kiếm một sự phân bố tối ưu về vùng, các hoạt động và tài sản để tránh những sự mất cân đối trên lãnh thổ quốc gia hay một vùng [17, tr 391]. Quan niệm về TCLTKT có những chuyển biến mới hơn từ những năm 1990 đến nay với những nghiên cứu của Paul Krugman, các Báo cáo phát triển thế giới,. Krugman phát triển lí thuyết về sự lựa chọn địa điểm của lao động và hãng kinh doanh, trong đó cốt lõi là hiệu quả kinh tế của quy mô lớn [8, tr 15]. Trong Báo cáo phát triển thế giới 2009 “Tái định dạng địa kinh tế” đã giải thích sự tăng trưởng kinh tế có thể diễn ra không đồng đều, nhưng sự phát triển vẫn có thể mang tính hòa nhập.
Khi các nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất sẽ tập trung cao hơn theo không gian. Đây cũng là những lí thuyết giải thích cho sự tập trung hóa và đô thị hóa ở các quốc gia. Báo cáo này cho rằng: Các địa phương phát triển tốt nếu chúng thúc đẩy sự chuyển đổi của các khía cạnh địa kinh tế: mật độ dày hơn khi các thành phố phát triển, khoảng cách ngắn hơn khi công nhân và doanh nghiệp di chuyển đến gần khu trung tâm hơn và có ít sự chia cắt hơn khi các quốc gia giảm bớt các biên giới kinh tế và tiến vào thị trường thế giới để tận dụng quy mô kinh tế và buôn bán các sản phẩm chuyên biệt. Sự chuyển đổi của ba khía cạnh địa kinh tế này (mật độ, khoảng cách và sự chia cắt) là then chốt cho sự phát triển.
Như vậy, phát triển kinh tế sẽ tập trung cao hơn theo không gian, nhưng phát triển vẫn có thể mang tính hòa nhập mang lại cho người dân mức sống đồng đều hơn giữa các vùng với các chính sách phù hợp đối với mỗi quốc gia [10, tr 10]. Ở Việt Nam, lí luận về TCLTKT như là một trong những nội dung nghiên cứu cơ bản của địa lí học được đưa vào khá sớm, từ những năm 1970. 10 Trong nhiều năm, hướng nghiên cứu được thể hiện qua việc lập tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của từng ngành và của các cấp lãnh thổ trong cả nước. Kết tinh của các nghiên cứu theo hướng này là các công trình 70.01, lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kì 1986 – 2000 TCLTKT được coi trọng bằng những cách nhìn mới nhằm mục tiêu phát triển bền vững, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách phát triển vùng, đảm bảo sự công bằng xã hội ngay cả trong việc giảm sự chênh lệch giữa các vùng, giảm sự phân hóa giàu nghèo.
Các kết quả nghiên cứu liên ngành dưới sự chỉ đạo của Chính phủ được thể hiện ở việc lập các quy hoạch tổng thể phát triển các ngành và các vùng lãnh thổ lớn như TCLTKT quốc gia Việt Nam và mô hình không gian của Việt Nam. Những nhiệm vụ chính của TCLTKT là phân bổ lại nguồn vốn và tài sản quốc gia, sửa chữa lại sự mất cân đối giữa các vùng, sử dụng hợp lí nhất các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội và giải quyết công ăn việc làm. Lê Bá Thảo cho rằng: Về khía cạnh địa lí, có thể coi TCLTKT là một hành động của địa lí học có chủ ý (géographie volontaire) hướng tới một sự công bằng về mặt không gian”[13, tr 4]. Như vậy, TCLTKT như nghệ thuật kiến thiết và sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả.
Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức không gian là xác định được sức chứa của lãnh thổ, tìm kiếm quan hệ tỉ lệ hợp lí và liên hệ chặt chẽ trong phát triển KTXH giữa các ngành và giữa các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng cũng như đảm bảo mối quan hệ giữa các vùng trong một quốc gia có tính tới mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau. Nhờ có sự sắp xếp có trật tự và hài hòa giữa các đối tượng trong lãnh thổ mà tạo ra một giá trị mới lớn hơn, làm cho sự phát triển hài hòa và bền vững hơn. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội dưới góc độ chính sách, xem như là một trong những hành động hướng tới sự công bằng về mặt không gian, tối ưu hóa các mối quan hệ hữu cơ giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực với nhau và giữa các cực với các không gian còn lại, nhằm làm cho lãnh thổ phát triển bền vững, tạo được sự ổn định cần thiết để thiết lập tiền đề cho tăng trưởng, cho phát triển.