MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi ở nƣớc ta tăng lên đáng kể. Theo thống kê của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi, năm 2001, cả nƣớc có 126 nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi, đến năm 2018, có 218 doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, trong đó có 71 doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và 147 doanh nghiệp trong nƣớc. Các doanh nghiệp trong nƣớc đa số có quy mô vừa, công suất sản xuất thấp dƣới 50.
Trong khi đó có một số doanh nghiệp FDI công suất sản xuất tƣơng đối lớn, chiếm phần lớn thị phần thức ăn chăn nuôi nội địa. Sự thống lĩnh thị trƣờng từ các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi nƣớc ngoài trên thị trƣờng thức ăn chăn nuôi Việt Nam dẫn tới sự cạnh tranh ngay trên sân nhà của các doanh nghiệp nội địa ngày càng khốc liệt. Một thực tế là số lƣợng các công ty chuyên sản xuất thức ăn chăn nuôi với quy mô lớn và công nghệ hiện đại trong nƣớc còn tƣơng đối hạn chế. Đặc biệt, nguồn nguyên liệu chủ yếu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi của các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào nguồn nhập khẩu và các doanh nghiệp nƣớc ngoài.
Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay, số lƣợng doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam không nhiều nhƣng thị phần của những doanh nghiệp đó lại vô cùng lớn. Doanh nghiệp nội muốn thắng trong cạnh tranh thì phải có những công cụ hữu ích phục vụ công tác điều hành, quản trị doanh nghiệp. Một trong những công cụ quan trọng đó là việc tổ chức kế toán quản trị. Kế toán quản trị cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị ngay từ khâu lập kế hoạch, giúp nhà quản trị lập kế hoạch sát với tình hình thực tế doanh nghiệp và vì vậy kế hoạch có tính khả thi cao.
Tiếp đến là khâu tổ chức thực hiện, kế toán quản trị cung cấp những thông tin trong quá trình thực hiện để phản ánh toàn bộ kết quả của từng bộ phận trong doanh nghiệp. Từ nguồn thông tin thực hiện của kế toán quản trị, nhà quản trị sẽ kiểm tra, đánh giá kết quả đạt đƣợc nhằm tìm ra hạn chế và biện pháp khắc phục. Cuối cùng đến khâu ra quyết định, kế toán quản trị cung cấp thông tin chủ yếu phục vụ việc ra quyết định của nhà quản trị. Chính vì những vai trò quan trọng của kế toán quản trị trong việc điều hành, quản lý doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán quản trị đảm bảo 1 luan an phát huy hiệu quả tối ƣu cho công tác quản lý.
Tổ chức kế toán quản trị một cách khoa học, hợp lý còn giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí cho công tác kế toán, đồng thời thông tin đƣợc cung cấp một cách kịp thời cho các quyết định kinh doanh. Khu vực kinh tế đồng bằng sông Hồng là một trong những khu vực kinh tế trọng điểm của cả nƣớc. Hiện nay, khu vực đồng bằng sông Hồng có 10 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hải Dƣơng, Hƣng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam. Diện tích của khu vực đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm 6,36% diện tích của cả nƣớc nhƣng lại là nơi có mật độ dân số cao nhất cả nƣớc (949 ngƣời/km2) (Nguồn: Tổng cục Thống kê 2011).
Khu vực đồng bằng sông Hồng có đầy đủ các loại hình doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi với các quy mô khác nhau. Tác giả nghiên cứu các doanh nghiệp SXTACN đồng bằng sông Hồng làm đại diện, tuy nhiên các giải pháp hoàn thiện có thể áp dụng cho các doanh nghiệp SXTACN ở các vùng khác trong cả nƣớc. Trong các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, một số tập đoàn lớn đã trở thành doanh nghiệp đa lĩnh vực, không chỉ sản xuất thức ăn chăn nuôi, các tập đoàn này còn sản xuất con giống, cung cấp sản phẩm chăn nuôi, đáng kể là Công ty Cổ phần tập đoàn Dabaco Việt Nam, công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam, công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Trung ƣơng. Tuy nhiên, kế toán quản trị chƣa đƣợc chú trọng ở đại bộ phận doanh nghiệp SXTACN nội địa.
Vì vậy, kế toán quản trị ở các doanh nghiệp đó chƣa đáp ứng đƣợc những yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp trong việc điều hành doanh nghiệp. Việc tổ chức KTQT phục vụ cho quá trình quản trị doanh nghiệp tại các doanh nghiệp SXTACN nội chƣa có hiệu quả. Điều đó làm hạn chế vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Thông tin KTQT trong các doanh nghiệp SXTACN nội địa cung cấp chƣa thực sự hữu ích cho nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản lý.
Trong khi doanh nghiệp Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh không cân sức với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ngay trên sân nhà về vốn, công nghệ nên cần phải có những công cụ trong quản trị doanh nghiệp thật hữu hiệu để phát triển doanh nghiệp, chiếm lĩnh thị phần, đem lại hiệu quả kinh doanh cao. Do đó, cần hoàn thiện việc tổ chức KTQT ở các doanh nghiệp SXTACN nội địa nhằm phát huy vai trò của KTQT trong quản lý doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh 2 luan an doanh, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Cần có nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về tổ chức KTQT trong các doanh nghiệp SXTACN để KTQT phát huy hiệu quả trong quản lý và điều hành doanh nghiệp. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi khu vực Đồng bằng Sông Hồng” để nghiên cứu luận án tiến sỹ của mình.
Tổng quan nghiên cứu Kế toán quản trị xuất hiện và đƣợc nghiên cứu trên thế giới khá sớm. Theo một số tài liệu, kế toán quản trị xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu thế kỷ XIX do sự phát triển mạnh mẽ về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp giai đoạn đó đòi hỏi nhà quản quản trị phải kiểm soát và đánh giá đƣợc các hoạt động trong doanh nghiệp. Trên thế giới, hầu nhƣ ít có đề tài nghiên cứu cụ thể về tổ chức KTQT, có một số nghiên cứu liên quan từng nội dung tổ chức KTQT nhƣ tổ chức bộ máy KTQT, tổ chức áp dụng các phƣơng pháp KTQT để xử lý, cung cấp thông tin KTQT. Ở Việt Nam, kế toán quản trị mới đƣợc nghiên cứu vào những năm 1990.
Chủ yếu nhiều đề tài nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị chi phí, doanh thu,… tức là nghiên cứu kế toán quản trị từng phần hành cụ thể. Một số đề tài nghiên cứu về kế toán quản trị nói chung. Một số đề tài nghiên cứu tổ chức KTQT. Các đề tài nghiên cứu tổ chức KTQT đa số tiếp cận tổ chức KTQT theo tiến trình xử lý thông tin kế toán, đó là thu nhận, xử lý, hệ thống hóa, phân tích và cung cấp thông tin.
Nhƣ vậy, theo cách tiếp cận này, tổ chức KTQT gồm các nội dung: tổ chức bộ máy KTQT, tổ chức thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin KTQT, lƣu trữ bảo mật thông tin KTQT. Bên cạnh đó, có một số đề tài tiếp cận tổ chức KTQT theo nội dung KTQT. Theo nội dung KTQT, tổ chức KTQT gồm các nội dung: tổ chức KTQT chi phí, tổ chức KTQT các yếu tố sản xuất, tổ chức kế toán trách nhiệm, tổ chức báo cáo KTQT, tổ chức bộ máy KTQT. Các đề tài nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị * Về tổ chức bộ máy kế toán quản trị Trên thế giới có một số nghiên cứu liên quan thiết kế bộ máy KTQT trong doanh nghiệp, cụ thể năm 2013, các tác giả Michel Lucas, Maicolm Prowle Glynn Lowth nghiên cứu “Management accounting practices of UK - Small- Medium Size 3 luan an Enterprises”.
Trong nghiên cứu này, các tác giả cho thấy trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngƣời điều hành thƣờng đảm nhiệm luôn công tác KTQT. Ngƣợc lại, ở những doanh nghiệp lớn, tổ chức KTQT với bộ máy riêng biệt, việc vận dụng KTQT đạt hiệu quả cao. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự thiếu hụt về nhân lực KTQT ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa ảnh hƣởng đến hệ thống dữ liệu. Đề tài đã chỉ ra những công cụ kế toán quản trị nào đƣợc áp dụng ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Anh, tác dụng của những công cụ đó, đồng thời đề tài cũng chỉ ra những công cụ của kế toán quản trị ít khi đƣợc vận dụng tại các doanh nghiệp đó (Lucas và cộng sự, 2013).
Nghiên cứu này không chỉ ra đặc thù của từng loại hình doanh nghiệp nhƣ sản xuất, thƣơng mại,… tổ chức bộ máy KTQT nhƣ thế nào, mô hình nào phù hợp, nghiên cứu chỉ áp dụng chung chung cho các doanh nghiệp theo quy mô lớn, vừa và nhỏ. Ở Việt Nam, nghiên cứu về nội dung tổ chức bộ máy KTQT có một số tác giả nhƣ tác giả Lƣu Thị Hằng Nga, Phạm Thị Tuyết Minh. Theo đó, mỗi lĩnh vực, quy mô doanh nghiệp sẽ có mô hình tổ chức bộ máy KTQT phù hợp. Tác giả Phạm Thị Tuyết Minh trong đề tài “Tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp thuộc tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam” năm 2015 đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy KTQT theo mô hình kết hợp KTTC với KTQT (Phạm Thị Tuyết Minh, 2015).
Phƣơng pháp nghiên cứu trong đề tài là phƣơng pháp định tính. Với nghiên cứu này, mô hình tổ chức bộ máy KTQT đƣợc tác giả hoàn thiện đƣợc áp dụng phù hợp với những doanh nghiệp sản xuất ô tô. Tác giả Lƣu Thị Hằng Nga (năm 2004) với luận án “Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp dầu khí Việt Nam”. Trong luận án, tác giả đã dựa vào đặc điểm và định hƣớng phát triển của tập đoàn dầu khí để hoàn thiện kế toán quản trị cho các doanh nghiệp trong tập đoàn.
Tuy nhiên luận án chƣa đi sâu vào hoàn thiện bộ máy KTQT. (Lƣu Thị Hằng Nga, 2004) * Về tổ chức quy trình kế toán quản trị Đa số các đề tài nghiên cứu tổ chức quy trình KTQT theo góc độ chung chung thuộc phạm vi nghiên cứu, chƣa nghiên cứu quy trình KTQT theo các nội dung cụ thể.