Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử (mã số 9.111) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Duyên, được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thị Côi và PGS. Trần Viết Thụ (năm 2018), tập trung giải quyết vấn đề: Tổ chức dạy học Lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) với di tích lịch sử tại địa phương ở trường Trung học phổ thông tỉnh Nghệ An.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ các định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về việc chuyển mạnh quá trình giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học; gắn giáo dục lý tưởng, truyền thống với rèn luyện kỹ năng thực hành và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Mục tiêu này được cụ thể hóa trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ban hành ngày 28/7/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tổ chức các hoạt động trải nghiệm và nội dung gắn với lịch sử địa phương. Về mặt thực tiễn, Nghệ An là địa bàn có mật độ di tích lịch sử dày đặc, gắn liền với tiến trình lịch sử dân tộc. Ngay từ ngày 05/03/2000, Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An đã ban hành Công văn số 195/HCTH về việc tăng cường sinh hoạt tập thể, đưa học sinh đi tham quan thực tập tại các di tích lịch sử. Tuy nhiên, việc tổ chức dạy học với di tích lịch sử địa phương tại các trường trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn tỉnh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: hoạt động còn mang tính hình thức, thiếu quy trình sư phạm cụ thể và chưa đem lại hiệu quả thực tế. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống về nội dung, hình thức và biện pháp sư phạm nhằm khai thác nguồn sử liệu từ di tích lịch sử địa phương Nghệ An phục vụ dạy học khóa trình Lịch sử Việt Nam lớp 12.

Mục đích nghiên cứu của luận án là khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức dạy học Lịch sử Việt Nam (lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương) với các di tích lịch sử tại địa phương ở trường THPT; xác định hệ thống di tích cần khai thác và đề xuất các hình thức, biện pháp tổ chức dạy học phù hợp. Luận án thực hiện 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình, bài viết về Giáo dục học, Tâm lí học, Phương pháp dạy học lịch sử trong và ngoài nước về việc tổ chức dạy học với di tích lịch sử nói chung, di tích lịch sử ở Nghệ An nói riêng.
  2. Điều tra cơ bản để đánh giá chất lượng dạy học lịch sử dân tộc ở trường THPT nói chung và thực trạng của việc tổ chức dạy học lịch sử Việt Nam với các di tích lịch sử ở địa phương trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
  3. Tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa Lịch sử Việt Nam ở lớp 12 THPT để xác định những nội dung cơ bản có thể tiến hành dạy học với di tích lịch sử ở địa phương.
  4. Tìm hiểu các di tích lịch sử tiêu biểu ở địa phương để xác định nội dung có thể khai thác nhằm xác định hình thức, biện pháp sư phạm có thể tổ chức dạy học Lịch sử Việt Nam với các di tích lịch sử địa phương trên địa bàn Nghệ An.
  5. Tiến hành thực nghiệm sư phạm (từng phần và toàn phần) để khẳng định tính khả thi của các hình thức, biện pháp đã nêu trong luận án.

Giả thuyết khoa học được xác lập: Việc tổ chức dạy học Lịch sử Việt Nam với di tích lịch sử ở địa phương cho học sinh lớp 12 THPT tỉnh Nghệ An sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, hoàn thành mục tiêu môn học nếu xác định được nội dung Lịch sử Việt Nam, nội dung di tích lịch sử ở địa phương có thể khai thác để tổ chức dạy học và đề xuất được hình thức, biện pháp tổ chức dạy học phù hợp.

Đối tượng nghiên cứu là quá trình tổ chức các hoạt động dạy học lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương với các di tích lịch sử tại địa phương cho học sinh lớp 12 (chương trình chuẩn) tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Phạm vi nghiên cứu giới hạn về lý luận và phương pháp dạy học lịch sử trong hoạt động nội khóa và ngoại khóa; phạm vi nội dung là chương trình Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 2000 lớp 12 chuẩn. Địa bàn điều tra và thực nghiệm được tiến hành tại các trường THPT đại diện cho ba vùng sinh thái - văn hóa của tỉnh Nghệ An: vùng miền núi (THPT Dân tộc Nội trú Kỳ Sơn, THPT Quế Phong), vùng thành phố (THPT Chuyên Đại học Vinh, THPT Lê Viết Thuật, THPT Hà Huy Tập) và vùng nông thôn, đồng bằng (THPT Đô Lương 1, THPT Bắc Yên Thành, THPT Thanh Chương 1, THPT Hoàng Mai, THPT Nghi Lộc 2).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm luận một khối lượng tư liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm chính:

Nhóm nghiên cứu của các tác giả nước ngoài:

  • Về giáo dục học và tâm lý học: Luận án phân tích quan điểm của L.V. Zancôp (1968) về mối liên hệ giữa dạy học và đời sống thực tiễn; Iacốplép (1975) về kỹ thuật tổ chức bài học ngoài lớp; I. Lecne (1977) về dạy học nêu vấn đề; M.N. Xcatkin (1980) về ứng dụng khoa học vào đời sống; M. Sácđacốp (1982) về nâng cao nhận thức trực quan thông qua tri giác di tích lịch sử; N. Savin (1983) và A. Leonchiev (1989) về vai trò tâm lý - nhận thức của hoạt động tham quan; V. Gruchetxki (1989) về tâm lý học hoạt động ngoại khóa ở học sinh lớn; các dự án giáo dục Việt - Bỉ của E. Vandenberghe, Derek Rowntree, Jean Berbaum, Alex Mucchielli (1999, 2000); Jacobsen, Paul Eggen, Donal Kauchak (2002) về phong cách học tập độc lập; Bobbi Deporter và Mike Hernacki (2006); các nghiên cứu của Hiệp hội Giám định và Phát triển chương trình giáo dục Hoa Kỳ (ASCD) gồm Robert J. Marzano (2013), Robert J. Pollock (2013), J. Stronge (2013), Thomas Armstrong (2013), Martin-Kniep (2013); các công trình cải cách giáo dục của Ozaki Muger (Nhật Bản, 2014) và lý luận dạy học hiện đại của Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2014).
  • Về lý luận dạy học lịch sử: Các công trình của Bécnhưcốp và I. Khơmelep (1963) về công tác ngoại khóa gắn với di tích và lịch sử địa phương; Đ. Nikiphôrốp (1964) về nguyên tắc trực quan và giá trị của di tích như một phương tiện trực quan vật thực; A. Vaghin (1972) về phương pháp giảng dạy lịch sử địa phương; N. Đairi (1973, 1978) về bài học tại nơi diễn ra sự kiện; G. Culaghina và Lương Ninh (1975) về trò chơi lịch sử; A. Kôlôscốp (1984), S. Đrurkova (1986), Vu Hữu Tây (1988), M. Kôrôvkôva và M. Xtudennhikin (1999), E. Xtrelôva (2001) về bài học thực địa và nguồn sử liệu vật chất; tài liệu hướng dẫn của Hiệp hội Lịch sử Anh (HistoryCOPs, 2003); M. Xtuđennhikin (2007) về công nghệ dạy học lịch sử; tài liệu đổi mới của Sở Giáo dục New South Wales (Úc, 2010) và nghiên cứu ứng dụng công nghệ của Terry Haydn (2013).

Nhóm nghiên cứu của các tác giả trong nước:

  • Về giáo dục học đại cương và lý luận dạy học: Các giáo trình và chuyên khảo của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (1987), Phạm Viết Vượng (1996, 2008), Thái Duy Tuyên (1998), Đặng Thành Hưng (2002), Trần Thị Tuyết Oanh (2005), Nguyễn Hoàng Trí và cộng sự (2010), Đỗ Hương Trà (2015), Trần Thị Thanh Thủy và cộng sự (2016) đề cập đến việc gắn kết giáo dục nhà trường với môi trường di sản và mô hình học tập trải nghiệm.
  • Về lý luận và phương pháp dạy học lịch sử: Giáo trình của Lê Khắc Nhãn, Hoàng Triều, Hoàng Trọng Hanh (1961); Trần Văn Trị, Phan Ngọc Liên và cộng sự (1966, 1968, 1975, 1980, 1992, 2002, 2014); Nguyễn Cảnh Minh (1992) về bài học thực địa; Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng và cộng sự (1995, 2006, 2009) về nghiệp vụ sư phạm và phương pháp khai thác bảo tàng, di tích; Phan Thế Kim, Hoàng Thanh Hải, Đỗ Hồng Thái (1996, 1998); tài liệu tập huấn di sản của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013, 2014); các công trình nghiên cứu của Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Minh Nguyệt, Phạm Mai Hùng (2014), Nguyễn Thị Kim Thành (2014) và Dương Văn Sáu (2007).
  • Về địa chí và di tích Nghệ An: Địa chí huyện Tương Dương của Ninh Viết Giao (2003), Địa chí huyện Quỳ Châu (2011); ấn phẩm Nghệ An di tích danh thắng (Sở Văn hóa Thông tin và Du lịch Nghệ An, 2005) với các bài viết của Hồ Hữu Thới, Nguyễn Sỹ Đạm, Phan Xuân Thành, Trương Quế Phương, Đỗ Minh Nụ, Nguyễn Thị Liễu, Đào Tam Tĩnh, Hồ Hoàng Viên, Đoàn Văn Nam, Lê Phương Thìn; cuốn Địa danh lịch sử - văn hóa Nghệ An của Trần Viết Thụ (2006, 2015); các bài báo khoa học của Lưu Trần Tiêu (2007, 2013), Hồ Đức Phớc (2013), Đặng Văn Bài (2013), Nguyễn Dung (2013), Ngô Vương Anh (2013), Anh Tuấn, Thúy Hoa, Quang Đại (2012); đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh của Bùi Văn Hào và cộng sự (2014); kỷ yếu hội thảo khoa học tỉnh Nghệ An (2014) của Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Quang Hồng, Nguyễn Thị Xuân Hoa, Nguyễn Thị Bình Minh, Nguyễn Thị Thanh Thủy; tài liệu giáo dục lịch sử địa phương THCS của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2015).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết bao gồm sáu nội dung:

  1. Tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận, ý nghĩa thực tiễn của việc dạy học lịch sử gắn với di tích địa phương nhằm tránh hiện đại hóa nhận thức lịch sử của học sinh.
  2. Xác định các khả năng giáo dục và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh THPT thông qua khai thác di tích lịch sử tại Nghệ An.
  3. Hệ thống hóa các khái niệm công cụ, phân loại di tích và khảo sát toàn diện thực trạng dạy học lịch sử gắn với di tích ở các trường THPT tỉnh Nghệ An.
  4. Đối chiếu nội dung sách giáo khoa Lịch sử 12 với hệ thống tư liệu tại các cơ quan quản lý di tích Nghệ An để tuyển chọn nội dung di tích phù hợp và đề xuất hệ thống hình thức tổ chức dạy học.
  5. Xây dựng quy trình các biện pháp sư phạm cụ thể cho bài học nội khóa trên lớp đối với phần lịch sử dân tộc.
  6. Thiết kế giáo án và tổ chức thực nghiệm sư phạm từng phần, toàn phần để kiểm chứng giả thuyết khoa học bằng công cụ thống kê toán học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lý luận nhận thức, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác giáo dục và bảo tồn di sản văn hóa. Khung lý thuyết của luận án tiếp thu lý thuyết nhận thức trực quan (từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng), lý thuyết dạy học nêu vấn đề (I. Lecne) và lý thuyết học tập trải nghiệm (David Kolb).

Hệ thống khái niệm công cụ được chuẩn hóa dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và từ điển chuyên ngành:

  • Di tích: Khái niệm được đối chiếu qua Từ điển Tiếng Việt (2006), Hiến chương Venice (1964) và Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), xác định di tích là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
  • Di tích lịch sử - văn hóa: Khái niệm theo Pháp lệnh năm 1984 và Luật Di sản văn hóa năm 2001/2009, bao gồm di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh.
  • Di tích lịch sử: Định nghĩa theo Lâm Bình Tường (1984), Hoàng Thanh Hải (1998) và Nguyễn Thịnh (2013), là bằng chứng vật chất ghi lại một sự kiện, một nhân vật hay một quá trình lịch sử cụ thể nhằm mục đích bảo tồn và giáo dục thế hệ sau. Di tích lịch sử gồm 3 thành tố: vật kỷ niệm gắn với sự kiện, lượng thông tin lịch sử - văn hóa, và biểu tượng văn hóa có tính khái quát cao.
  • Di sản văn hóa: Gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể (trong đó di tích lịch sử là một dạng di sản văn hóa vật thể đặc thù).
  • Di tích lịch sử ở Nghệ An: Hệ thống dấu vết lịch sử ghi nhận quá trình dựng nước và giữ nước trên địa bàn Nghệ An, với đặc điểm nổi bật trong khóa trình lớp 12 là mật độ dày đặc của các di tích lịch sử cách mạng gắn với phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
  • Tổ chức, hình thức tổ chức dạy học, tổ chức dạy học với di tích lịch sử: Phân loại thành hoạt động nội khóa (bài học trên lớp, bài học tại thực địa, di tích, bảo tàng) và hoạt động ngoại khóa (tham quan, dạ hội, thi tìm hiểu, sưu tầm tư liệu).

Hệ thống phân loại di tích trong luận án được tiếp cận đa chiều: theo giá trị khoa học (lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, danh thắng, khảo cổ); theo vật liệu tạo tác (hữu cơ, vô cơ, tự nhiên); theo niên đại (tiền - sơ sử, trung đại, cận - hiện đại); theo hiện trạng (nguyên vẹn, xuống cấp, phế tích, chỉ còn địa danh); theo chức năng (cư trú, sản xuất, quân sự, tín ngưỡng, mộ táng); theo cấp xếp hạng quản lý (cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt); và theo nội dung phản ánh (di tích sự kiện và di tích lưu niệm danh nhân lịch sử cách mạng).

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu các văn kiện giáo dục, tài liệu tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học lịch sử; nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa Lịch sử Việt Nam lớp 12 chuẩn.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực địa di tích; phỏng vấn chuyên gia quản lý di sản; dự giờ, quan sát hoạt động dạy học của giáo viên; điều tra thực trạng bằng phiếu hỏi đối với giáo viên và học sinh tại các trường THPT đại diện cho 3 vùng sinh thái của Nghệ An.
  • Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm từng phần (đối với các bài học lịch sử địa phương và hoạt động ngoại khóa) và thực nghiệm toàn phần (đối với bài học lịch sử dân tộc nội khóa trên lớp) có bố trí lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC) tương đương về trình độ.
  • Nhóm phương pháp toán học thống kê: Thu thập điểm số kiểm tra, tính toán các tham số thống kê gồm điểm trung bình cộng ($\bar{X}$), phương sai ($S^2$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến thiên ($V$), giá trị kiểm định $t$-Student và kiểm định $u$ để đánh giá mức độ sai khác có ý nghĩa thống kê giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.

Nguồn tư liệu, dữ liệu sử dụng trong luận án gồm: hệ thống văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An; tư liệu điều tra tại 92 trường THPT trên địa bàn tỉnh; tư liệu khoa học, hồ sơ xếp hạng di tích từ Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Nghệ An, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An, Thư viện tỉnh Nghệ An; cùng cơ sở dữ liệu điểm kiểm tra của học sinh trong các đợt thực nghiệm sư phạm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này dành 30 trang phân tích toàn diện lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng các nhà giáo dục học và lý luận dạy học lịch sử trên thế giới (Liên Xô trước đây, Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Úc...) đều thống nhất khẳng định vai trò của việc sử dụng đồ dùng trực quan nguyên bản, bài học thực địa và hoạt động ngoại khóa tại di tích nhằm tích cực hóa nhận thức của người học. Ở Việt Nam, các công trình của các chuyên gia đầu ngành đã bước đầu phác thảo lý thuyết về bài học tại thực địa, bảo tàng và sử dụng di sản trong trường phổ thông. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể việc tích hợp các di tích lịch sử địa phương tại Nghệ An vào quá trình giảng dạy khóa trình Lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) lớp 12 chuẩn. Đây là cơ sở khoa học để tác giả xác lập hướng nghiên cứu kế thừa và giải quyết các vấn đề mới của luận án.

Chương 2: Vấn đề tổ chức dạy học lịch sử Việt Nam với di tích lịch sử ở địa phương cho học sinh trung học phổ thông - Lý luận và thực tiễn

Chương 2 làm rõ cơ sở lý luận về cấu trúc, đặc điểm của di tích lịch sử và vai trò của di tích như một nguồn sử liệu đặc thù. Về mặt thực tiễn, tác giả cung cấp số liệu tổng quan về mạng lưới trường học và di tích tại Nghệ An. Tỉnh hiện có 92 trường THPT (70 trường công lập và 22 trường ngoài công lập). Mạng lưới di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn phản ánh sinh động các giai đoạn lịch sử dân tộc: thời kỳ vận động thành lập Đảng và phong trào 1930 - 1931 (đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh), thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975).

Kết quả điều tra thực trạng dạy học lịch sử dân tộc gắn với di tích địa phương cho thấy:

  • Phần lớn giáo viên và cán bộ quản lý nhận thức được tầm quan trọng của di tích lịch sử trong giáo dục truyền thống và phát triển năng lực học sinh, nhưng mức độ áp dụng thường xuyên còn rất thấp.
  • Hoạt động dạy học gắn với di tích chủ yếu diễn ra dưới hình thức tham quan tự do, dọn dẹp vệ sinh vào các dịp kỷ niệm; việc tổ chức giờ học lịch sử chính khóa tại thực địa hoặc sử dụng tư liệu di tích để tổ chức hoạt động nhận thức trong bài học nội khóa trên lớp còn hiếm hoi.
  • Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ áp lực thời gian phân phối chương trình, kinh phí di chuyển hạn hẹp, khó khăn trong công tác đảm bảo an toàn cho học sinh, và đặc biệt là giáo viên thiếu tài liệu hướng dẫn sư phạm cụ thể về cách thức tích hợp tư liệu di tích địa phương vào bài giảng lịch sử dân tộc.

Chương 3: Nội dung và hình thức tổ chức dạy học lịch sử Việt Nam với di tích lịch sử tại địa phương cho học sinh lớp 12 ở Nghệ An

Chương này xác định vị trí, mục tiêu, cấu trúc nội dung của chương trình Lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) lớp 12 chuẩn, đối chiếu với hệ thống di tích thực tế tại Nghệ An để lựa chọn các di tích tiêu biểu phục vụ dạy học:

  • Nhóm di tích gắn với các mốc lịch sử thời kỳ 1919 - 1930 và phong trào cách mạng 1930 - 1931: Khu di tích lịch sử Kim Liên (Nam Đàn) gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh; Cụm di tích phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh gồm Đài liệt sỹ Thái Lão (Hưng Nguyên), Đình Võ Liệt (Thanh Chương), Đình Trung Cần và Đình Hoành Sơn (Nam Đàn), Cây đa Cồn Chùa và nhà cụ Vi Văn Khang (Con Cuông), Đình chợ Xâm.
  • Nhóm di tích lưu niệm các nhân vật lịch sử, lãnh tụ cách mạng: Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Hồng Phong (Hưng Nguyên), Khu lưu niệm Phan Bội Châu (Nam Đàn), Khu lưu niệm đồng chí Phan Đăng Lưu (Yên Thành).
  • Nhóm di tích kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ: Hệ thống đường sắt, cầu cống, cảng Bến Thủy, pháo đài phòng không, các cung đường vận tải chiến lược trên tuyến đường Trường Sơn qua Nghệ An.

Về hình thức tổ chức dạy học, tác giả phân định thành hai tuyến hoạt động:

  1. Hoạt động nội khóa: Dạy học bài mới trên lớp có sử dụng tư liệu di tích (thông qua tranh ảnh, video, mô hình, hồ sơ tư liệu số hóa); tổ chức bài học lịch sử tại thực địa (di tích lịch sử); và tổ chức các tiết học lịch sử địa phương theo chương trình quy định.
  2. Hoạt động ngoại khóa: Tổ chức tham quan học tập chuyên đề tại di tích; tổ chức câu lạc bộ lịch sử; tổ chức dạ hội lịch sử gắn với di tích; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử địa phương và các hoạt động công ích chăm sóc, bảo vệ di tích.

Chương 4: Một số biện pháp tổ chức dạy học lịch sử Việt Nam (1919 – 2000) với di tích lịch sử tại địa phương cho bài học nội khóa ở trên lớp trong trường trung học phổ thông tỉnh Nghệ An. Thực nghiệm sư phạm

Tác giả đề xuất hệ thống 4 biện pháp sư phạm cụ thể áp dụng cho các bài học nội khóa phần lịch sử dân tộc trên lớp:

  • Biện pháp 1: Sử dụng tài liệu di tích lịch sử địa phương để kích hoạt hoạt động nhận thức của học sinh (tạo tình huống có vấn đề khi vào bài mới hoặc chuyển mục kiến thức).
  • Biện pháp 2: Tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh với nguồn sử liệu về di tích lịch sử để hình thành kiến thức mới (hướng dẫn học sinh khai thác thông tin từ văn bia, câu đối, hiện vật, địa danh lịch sử).
  • Biện pháp 3: Sử dụng tài liệu về di tích lịch sử ở địa phương để củng cố, luyện tập và khắc sâu kiến thức bài học (thiết kế câu hỏi, bài tập nhận thức, sơ đồ hóa kiến thức liên hệ giữa sự kiện toàn quốc và diễn biến tại địa phương).
  • Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh sưu tầm tài liệu về di tích lịch sử để vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống và phục vụ công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập (xây dựng báo cáo thu hoạch, tập san tư liệu, hồ sơ điện tử giới thiệu di tích).

Luận án tiến hành hai giai đoạn thực nghiệm sư phạm:

  • Thực nghiệm từng phần: Áp dụng các biện pháp tổ chức dạ hội lịch sử, thi tìm hiểu di tích, thực nghiệm biện pháp hình thành kiến thức mới qua nguồn sử liệu di tích, và kiểm tra hoạt động nhận thức kết hợp sưu tầm tư liệu.
  • Thực nghiệm toàn phần: Triển khai trực tiếp trên các bài học lịch sử dân tộc nội khóa trên lớp với bài thực nghiệm số 1 và bài thực nghiệm số 2, đối sánh giữa các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tại các trường THPT đại diện cho 3 vùng của tỉnh.

Bảng tổng hợp kết quả thực nghiệm sư phạm trong danh mục bảng của luận án được khái quát như sau:

STT Ký hiệu bảng / Biểu đồ Nội dung thể hiện trong luận án
1 Bảng 3 Tổng hợp kết quả học tập của lớp thực nghiệm và đối chứng
2 Mục thực nghiệm 1 Tổ chức dạ hội lịch sử với di tích lịch sử ở địa phương
3 Mục thực nghiệm 2 Tổ chức thi tìm hiểu về di tích lịch sử ở địa phương
4 Mục thực nghiệm 3 Kết quả thực nghiệm từng phần biện pháp tổ chức hoạt động nhận thức của HS với các nguồn sử liệu về DTLS để hình thành kiến thức
5 Mục thực nghiệm 4 Kết quả kiểm tra hoạt động nhận thức HS; kết quả thực nghiệm biện pháp hướng dẫn HS sưu tầm tài liệu về DTLS để vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
6 Bảng kiểm tra bài 1 Bảng điểm kiểm tra bài học lịch sử dân tộc nội khóa ở trên lớp (Bài số 1)
7 Bảng tỉ lệ bài 1 Bảng tỉ lệ kết quả bài học lịch sử dân tộc nội khóa ở trên lớp (Bài số 1)
8 Bảng tham số bài 1 Các tham số kiểm định kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 1
9 Bảng điểm bài 2 Bảng điểm kiểm tra bài thực nghiệm số 2
10 Bảng tỉ lệ bài 2 Bảng tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2
11 Bảng tham số bài 2 Các tham số kiểm định kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2
12 Biểu đồ 1, 2 Biểu đồ thể hiện kết quả thực nghiệm bài số 1 và bài số 2

Số liệu thống kê xử lý từ các bài kiểm tra thực nghiệm cho thấy điểm trung bình cộng của các lớp thực nghiệm luôn cao hơn lớp đối chứng ở mức có ý nghĩa thống kê; độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên ở các lớp thực nghiệm thấp hơn, phản ánh độ phân tán điểm số nhỏ hơn và chất lượng nắm vững kiến thức đồng đều hơn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập những đóng góp khoa học và thực tiễn cụ thể:

Về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy học Lịch sử Việt Nam gắn với di tích lịch sử địa phương tại trường THPT.
  • Xác định hệ thống nguyên tắc sư phạm và yêu cầu mang tính nguyên tắc khi lựa chọn, khai thác nguồn sử liệu từ di tích lịch sử địa phương trong quá trình dạy học lịch sử dân tộc.
  • Bổ sung và phát triển lý luận phương pháp dạy học bộ môn về việc kết hợp các hình thức dạy học nội khóa và ngoại khóa với nguồn tài nguyên di sản văn hóa vật thể tại chỗ.

Về mặt thực tiễn:

  • Khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng dạy học lịch sử dân tộc với di tích lịch sử địa phương tại 92 trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An, chỉ rõ những bất cập, nguyên nhân và rào cản thực tế.
  • Tuyển chọn, thẩm định và hệ thống hóa nội dung lịch sử của các di tích tiêu biểu tại Nghệ An (khu di tích Kim Liên, hệ thống di tích Xô viết Nghệ Tĩnh, các khu lưu niệm danh nhân cách mạng...) tương ứng với từng bài học cụ thể trong chương trình Lịch sử lớp 12 chuẩn.
  • Đề xuất quy trình thực thi 4 biện pháp sư phạm tổ chức dạy học nội khóa trên lớp và các mô hình hoạt động ngoại khóa; xây dựng giáo án mẫu và kiểm chứng tính khả thi thông qua hệ thống thực nghiệm sư phạm nghiêm ngặt.

Kiến nghị, giải pháp đề xuất:

  • Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An: Cần chỉ đạo thống nhất việc biên soạn, thẩm định tài liệu hướng dẫn giáo viên khai thác di tích địa phương; có cơ chế phối hợp liên ngành với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiếp cận các di tích.
  • Đối với các trường THPT: Linh hoạt phân bổ kế hoạch dạy học, cân đối kinh phí hoạt động trải nghiệm và tạo điều kiện an toàn khi tổ chức cho học sinh đi thực tế tại di tích.
  • Đối với giáo viên bộ môn Lịch sử: Tăng cường tự bồi dưỡng kiến thức lịch sử địa phương; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng hồ sơ tư liệu số hóa về di tích; đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng yêu cầu học sinh xử lý tư liệu thực tiễn thay vì tái hiện máy móc số liệu sách giáo khoa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án tự xác định: do giới hạn về quy định số trang của một luận án tiến sĩ, tác giả chưa thể triển khai thực nghiệm sư phạm toàn phần đối với tất cả các bài học lịch sử địa phương và các hình thức ngoại khóa, mà phải tập trung thực nghiệm toàn phần đối với bài học lịch sử dân tộc nội khóa trên lớp. Địa bàn khảo sát và thực nghiệm mới chỉ tập trung tại tỉnh Nghệ An.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ luận án:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu quy trình tổ chức dạy học với di tích lịch sử địa phương cho các khối lớp khác (lớp 10, lớp 11) và các giai đoạn lịch sử khác (lịch sử nguyên thủy, cổ - trung đại Việt Nam).
  • Vận dụng quy trình, biện pháp sư phạm của đề tài sang chương trình Lịch sử nâng cao hoặc mở rộng áp dụng cho các tỉnh, thành phố khác thuộc khu vực Bắc Trung Bộ có đặc điểm di sản tương đồng.
  • Đi sâu nghiên cứu ứng dụng công nghệ số, bảo tàng ảo và không gian thực tế ảo đối với các di tích lịch sử địa phương nhằm phục vụ bài học lịch sử trong bối cảnh hạ tầng trường học vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí di chuyển.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu của luận án có giá trị ứng dụng cụ thể đối với các nhóm đối tượng:

  • Giáo viên Lịch sử các trường THPT tại tỉnh Nghệ An: Sử dụng trực tiếp hệ thống dữ liệu di tích đã được phân loại ở Chương 3 và quy trình 4 biện pháp sư phạm ở Chương 4 để thiết kế bài học nội khóa, tổ chức hoạt động ngoại khóa phù hợp với từng đơn vị trường học (miền núi, nông thôn, đô thị).
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh, sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử: Tham khảo khung lý luận, hệ thống khái niệm công cụ, phương pháp thiết kế thực nghiệm sư phạm và kỹ thuật ứng dụng toán học thống kê trong nghiên cứu khoa học giáo dục lịch sử.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý di sản: Tham khảo đề xuất cơ chế phối hợp giữa ngành giáo dục và ngành văn hóa - du lịch, mô hình xã hội hóa giáo dục di sản, đưa di tích thành một thiết chế văn hóa gắn kết chặt chẽ với trường phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn giai đoạn lịch sử nào và vì sao lại tập trung vào học sinh lớp 12?
Luận án giới hạn trong giai đoạn Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 thuộc chương trình Lịch sử lớp 12 (chương trình chuẩn). Đây là giai đoạn lịch sử gắn liền với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Nghệ An là cái nôi của phong trào cách mạng và quê hương của nhiều lãnh tụ, tạo nên sự tương thích cao giữa nội dung chương trình với hệ thống di tích thực tế tại địa phương.

2. Điểm khác biệt giữa di tích nói chung và di tích lịch sử theo định nghĩa được sử dụng trong luận án là gì?
Di tích nói chung là dấu vết vật chất còn lại của quá khứ mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa, khoa học (tự nhiên hoặc nhân tạo). Di tích lịch sử là loại hình công trình, địa điểm lưu giữ dấu vết của quá khứ nhằm mục đích bảo tồn và ghi nhận, chỉ dẫn cho hậu thế về những sự kiện trọng đại, hoặc gắn với thân thế, sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, danh nhân lịch sử tiêu biểu.

3. Luận án đề xuất những hình thức tổ chức dạy học cụ thể nào?
Luận án phân chia thành hai hình thức chính: hình thức nội khóa (tiến hành bài học trên lớp có sử dụng tư liệu di tích, tổ chức bài học tại thực địa/di tích, bài học lịch sử địa phương) và hình thức ngoại khóa (tham quan học tập, dạ hội lịch sử, thi tìm hiểu di tích, sưu tầm tài liệu và chăm sóc di tích).

4. Bốn biện pháp sư phạm áp dụng cho bài học nội khóa trên lớp được cấu trúc như thế nào?
Bốn biện pháp được xây dựng bám sát tiến trình bài giảng trên lớp: (1) Sử dụng tài liệu di tích để kích hoạt hoạt động nhận thức (mở đầu, nêu vấn đề); (2) Tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh với nguồn sử liệu di tích để hình thành kiến thức mới; (3) Sử dụng tài liệu di tích để củng cố, luyện tập; (4) Hướng dẫn học sinh sưu tầm tài liệu di tích để vận dụng thực tiễn và phục vụ kiểm tra, đánh giá.

5. Khảo sát thực trạng trong luận án được tiến hành tại những nhóm trường nào ở Nghệ An?
Khảo sát được thực hiện trên địa bàn tỉnh Nghệ An (nơi có 92 trường THPT) với các trường đại diện cho 3 vùng sinh thái: vùng miền núi (THPT Dân tộc Nội trú Kỳ Sơn, THPT Quế Phong); vùng thành phố (THPT Chuyên Đại học Vinh, THPT Lê Viết Thuật, THPT Hà Huy Tập); và vùng nông thôn, đồng bằng (THPT Đô Lương 1, THPT Bắc Yên Thành, THPT Thanh Chương 1, THPT Hoàng Mai, THPT Nghi Lộc 2).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Duyên đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề tổ chức dạy học Lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) với di tích lịch sử địa phương tại các trường THPT tỉnh Nghệ An. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng, đồng thời tuyển chọn được hệ thống di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu phù hợp với nội dung chương trình Lịch sử lớp 12 chuẩn. Hệ thống 4 biện pháp sư phạm nội khóa và các hình thức ngoại khóa do tác giả đề xuất đã được kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả thông qua thực nghiệm sư phạm với các tham số thống kê tin cậy. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác giảng dạy lịch sử tại các trường phổ thông và các cơ sở đào tạo sư phạm.