CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC KHÁM PHÁ TRONG VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC VẬT LÍ CHO HỌC SINH 1. Khái niệm năng lực Năng lực là một khái niệm rộng và rất phức tạp, nếu tổng hợp tất cả các hướng tiếp cận năng lực để tìm ra một khái niệm chung nhất như: tất cả khả năng trí óc, tất cả các kĩ năng học tập, chiến lược, toàn bộ động cơ học tập, thành tích và tất cả các kĩ năng nghề nghiệp quan trọng… điều này tất nhiên sẽ tạo ra một khái niệm năng lực rộng nhưng sẽ ít có giá trị thực tiễn, nghiên cứu khoa học và khó trong việc đánh giá. Để giúp cho việc bồi dưỡng năng lực của HS, tôi tiếp cận năng lực theo các dấu hiệu sau: - Về tính chất: năng lực là thuộc tính tâm lý của cá nhân - Về cấu trúc: năng lực bao gồm các thành phần: tri thức (khả năng trí tuệ và kiến thức), kĩ năng, thái độ (tình cảm,ý chí, động lực…) thể hiện trong một bối cảnh cụ thể.
- Về kết quả: năng lực có thể giúp các cá nhân thực hiện tốt các hành động, đồng thời giúp các cá nhân ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc. Vì vậy năng lực được thể hiện trong hoạt động và gắn liền với hoạt động ở một thời điểm nhất định nào đó. - Về sự hình thành và phát triển: năng lực được hình thành do nguồn gốc di truyền (bẩm sinh, năng khiếu) và do tập luyện (tác động của xã hội và môi trường giáo dục), trong đó năng lực của HS được hình thành và phát triển chủ yếu là do quá trình đào tạo [4]. Từ cách tiếp cận này, luận văn sử dụng khái niệm năng lực như sau: Năng lực là khả năng huy động sự hiểu biết vào thực hiện thành công các hoạt động trong các bối cảnh nhất định – đặc biệt là các bối cảnh gắn với thực tiễn - nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thái độ,….nhằm đào tạo các công dân tương lai có trách nhiệm trước những vấn đề của cuộc sống, của xã hội.
Cấu trúc năng lực Tương tự như khái niệm năng lực, có nhiều ý kiến khác nhau về cấu trúc năng lực tùy vào cách phân tích khái niệm năng lực. Dựa vào khái niệm và đặc điểm trên, luận văn tiếp cận cấu trúc năng lực theo các phương diện sau: - Về bản chất: Năng lực là khả năng mỗi cá nhân kết hợp linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ,… nhằm đáp ứng yêu cầu phức tạp của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó có chất lượng trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. - Về biểu hiện: Năng lực thể hiện qua cách sử dụng các kiến thức, kĩ năng kết hợp với thái độ, giá trị, động cơ,… trong một tình huống thực chứ không phải là sự tiếp thu các tri thức rời rạc, tách rời tình huống thực tức là thể hiện trong hành vi, hành động và sản phẩm….có thể quan sát được, đo đạc được. - Về cấu trúc: Năng lực được cấu thành bởi các thành tố kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ, tư chất… Cấu trúc năng lực gồm 3 tầng: tầng 1 là tầng LÀM, tầng những gì mà cá nhân thực hiện được, làm được vì thế nên có thể quan sát được.
Tầng 2 là SUY NGHĨ, tầng tiền đề, tức là những kiến thức, kỹ năng tư duy cùng với giá trị niềm tin là cơ sở quan trọng để phát triển tư duy, suy nghĩ… là điều kiện để phát triển năng lực, chúng ở dạng tiềm năng, không quan sát được. Tầng 3 là tầng MONG MUỐN, tầng sâu nhất, quyết định cho sự khởi phát và tính độc đáo của năng lực được hình thành, trong đó động cơ và tính tích cực của nhân cách có tính quyết định. Bởi nếu người học thực sự mong muốn, có thể đạt được những điều ở tầng 2 và 1; nếu người học không muốn thì không gì có thể thay đổi họ. [13] Ngoài ra, năng lực còn có cấu trúc đa thành tố, đa tầng bậc, nó có thể thể hiện qua mô hình các đơn vị của năng lực: a) Các thành tố của năng lực là các kỹ năng cơ bản, kết hợp với nhau tạo nên mỗi hợp phần, thường được bắt đầu với động từ mô tả rõ ràng giá trị của hoạt động.
b) Tiêu chí thực hiện chỉ rõ: yêu cầu cần thực hiện của mỗi thành tố, gọi là các chỉ số hành vi; và mức độ thành thạo ở mỗi yêu cầu đó, gọi là gọi là tiêu chí chất lượng. 7 Tuy nhiên, với khái niệm năng lực luận văn sử dụng, các thành tố của năng lực (các hợp phần) thực chất chỉ là xác định các biểu hiện hành vi của năng lực mà không có cấu trúc chặt chẽ giữa các năng lực thành tố này. Năng lực Vật lí 1. Khái niệm Năng lực vật lí thể hiện qua: - Kiến thức vật lí của một cá nhân và sử dụng kiến thức đó để nhận biết các câu hỏi, tiếp thu kiến thức mới, giải thích các hiện tượng vật lí và rút ra kết luận có vấn đề.
- Nhận dạng được vấn đề và rút ra được kết luận có cơ sở về các vấn đề liên quan đến vật lí. - Hiểu biết cá nhân về đặc điểm đặc trưng của vật lí. - Nhận thức của các nhân đó về những ảnh hưởng của khoa học và công nghệ tới đời sống, vật chất, tinh thần và văn hoá của con người. - Sự sẵn sàng tham gia vào các vấn đề liên quan tới khoa học với tư cách là một công dân có hiểu biết và tư duy khoa học.
Cấu trúc năng lực Vật lí Môn Vật lí hình thành và phát triển ở HS năng lực vật lí, với những chỉ số hành vi như sau: Năng lực Chỉ số hành vi thành phần N1: Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí. N2: Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò Nhận thức của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, kiến thức viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ. vật lí N3: Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học. N4: So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau.
8 N5: Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình. N6: Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận. N7: Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân. T1: Đề xuất vấn đề liên quan đến vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức, kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất.
T2: Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu. T3: Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập được kế hoạch triển khai tìm Tìm tòi và hiểu. khám phá T4: Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng thế giới tự quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, nhiên dưới xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết góc độ vật quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần lí thiết. T5: Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục.
T6: Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp. 9 V1: Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn. Vận dụng V2: Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn. kiến thức V3: Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện vật lí vào được một số phương pháp hay biện pháp mới.
thực tiễn V4: Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững.1 Năng lực thành phần và chỉ số hành vi của năng lực Vật lí [2] 1. Các nguyên tắc bồi dưỡng năng lực Vật lí Từ quan điểm giáo dục học, năng lực và kĩ năng chỉ phát triển nếu nó gắn với hoạt động và thông qua hoạt động. Do đó, chỉ có thể đo được sự phát triển năng lực thông qua xác định mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng tiến hành những hoạt động thành phần và kết quả của hoạt động đó. Để năng lực vật lí được phát triển thuận lợi, cần phải đảm bảo những điều kiện sau: - HS có động cơ, thái độ học tập tốt; được chuẩn bị tốt về kiến thức, kĩ năng.
- GV là trợ lực gây hứng thú và kích thích HS tích cực tham gia hoạt động tìm tòi sáng tạo; GV tổ chức cho HS được tham gia nhiều vào hoạt động nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề thực tiễn. Có nghĩa là GV cần xây dựng tình huống nhưng phải làm cho HS tiếp nhận tình huống, thúc đẩy động cơ, tình cảm trách nhiệm để HS tự nguyện tham gia hợp tác.