Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài. Chương 2: Thực trạng rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 thông qua phân môn Tập làm văn. Chương 3: Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3. - Phần kết luận 12 Luan van B.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI THOẠI 1. Khái niệm hội thoại Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ.
Nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”. [2, 201] Khi bàn về vấn đề hội thoại, tác giả Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga đã khẳng định: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời miệng giữa các nhân vật giao tiếp, nhằm trao đổi thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm,… theo một mục đích xác định.” [3, 13] Ví dụ: Tiếng Việt 5 – Tập 1 – Trang 135 – Bài “Chuỗi ngọc lam” Cửa lại mở, một thiếu nữ bước vào. Cô lấy trong túi xách ra chuỗi ngọc lam: - Chuỗi ngọc này có phải của tiệm ông không ạ? - Phải. - Thưa… Có phải ngọc thật không? - Không phải thứ ngọc quý nhất, nhưng là ngọc thật.
- Ông có nhớ đã bán cho ai không? - Một cô bé tên là Gioan mua tặng chị của mình. - Giá bao nhiêu ạ? - Tôi không khi nào nói giá tiền của quà tặng. - Gioan chỉ có ít tiền tiêu vặt. Làm sao em mua nổi chuỗi ngọc này? Pi-e gói lại chuỗi ngọc và đáp: - Em đã trả giá rất cao.
Bằng toàn bộ số tiền em có. PHUN-TƠN O-XLƠ (Nguyễn Hiến Lê dịch) Ví dụ trên là đoạn hội thoại giữa một thiếu nữ và Pi-e. Cô thiếu nữ tìm gặp Pi-e để trao đổi những thông tin về chuỗi ngọc được tặng. Đoạn thoại diễn ra nhằm làm sáng tỏ những thắc mắc của cô: + Liệu Gioan có mua chuỗi ngọc lam ở cửa hàng này không? 13 Luan van + Chuỗi ngọc này có phải là ngọc thật không? + Pi-e đã bán chuỗi ngọc thật này cho cô bé với giá bao nhiêu tiền? + Làm thế nào Gioan đã mua được chuỗi ngọc đắt tiền như vậy? Trong ví dụ trên, cuộc trao đổi diễn ra trực tiếp giữa hai nhân vật (Pi-e và thiếu nữ) có sự luân phiên lượt lời, người này nói thì người kia nghe và ngược lại người kia nói thì người này nghe.
Vai người nói và người nghe luôn có sự thay đổi với nhau. Như vậy, hội thoại chính là một hoạt động giao tiếp phổ biến, diễn ra trực tiếp giữa các nhân vật giao tiếp, nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,… theo mục đích giao tiếp nhất định. Hội thoại và độc thoại - Điểm giống nhau: Cả hội thoại và độc thoại đều có vấn đề đặt ra để giao tiếp, đích giao tiếp, không gian, thời gian và ngôn ngữ để giao tiếp. - Điểm khác nhau: Độc thoại Hội thoại Là lời một người nói với một hay Là cuộc trò chuyện tối thiểu nhiều người nghe không cần lời đáp giữa hai người trong đó lại.
Độc thoại cũng có thể là lời một Khái người nói và người nghe người tự nói với mình. Độc thoại niệm luôn có sự luân phiên lượt thường xuất hiện trong những hoàn lời, lúc người này nói thì cảnh như thuyết trình, báo cáo, phát người kia nghe và ngược lại. Số lƣợng Chỉ gồm một lượt lời Từ hai lượt lời trở lên lƣợt lời Cách Triển khai theo đích mà người nói Triển khai dựa vào hoàn triển khai đã vạch sẵn cảnh giao tiếp cụ thể nội dung Tuy nhiên, theo tác giả Đỗ Hữu Châu, sự phân biệt độc thoại và hội thoại chỉ mang tính tương đối. Trong một cuộc độc thoại cũng có thể xen vào những cuộc thoại ngắn hoặc nếu cô lập lời nói của một người trong cuộc thoại thì ta được lời độc thoại ngắn.
14 Luan van Ví dụ: Tiếng Việt 3 – Tập 2 – Trang 106 – Bài “Bác sĩ Y-éc-xanh” Bà khách thổ lộ nỗi băn khoăn của mình: - Y-éc-xanh kính mến, ông quên nước Pháp rồi ư? Ông định ở đây suốt đời sao? Y-éc-xanh lặng yên nhìn khách, hai bàn tay đan vào nhau, đặt trên đầu gối. - Tôi là người Pháp. Mãi mãi tôi là công dân Pháp. Người ta không thể nào sống mà không có Tổ quốc.
Ngừng một chút, ông tiếp: - Tuy nhiên, tôi với bà, chúng ta đang sống chung trong một ngôi nhà: trái đất. Trái đất đích thực là ngôi nhà của chúng ta. Những đứa con trong nhà phải thương yêu và có bổn phận giúp đỡ lẫn nhau. Tôi không thể rời khỏi Nha Trang này để sống ở nơi nào khác.
Chỉ có ở đây, tâm hồn tôi mới được rộng mở, bình yên. Hai người cùng im lặng. Họ nghe rõ tiếng biển thở dài, đổ nhẹ những con sóng thủy tinh vỡ vụn lên bờ cát. Theo CAO LINH QUÂN Ví dụ trên đây là cuộc trò chuyện diễn ra giữa hai người: bác sĩ Y-éc-xanh và một bà khách.
Y-éc-xanh lắng nghe câu hỏi của bà khách và đáp lại. Câu trả lời của Y-éc-xanh nhằm làm rõ nỗi băn khoăn của bà: Liệu Y-éc-xanh đã quên nước Pháp hay chưa? Liệu ông có định ở Nha Trang suốt đời hay không? Đây là một cuộc hội thoại ngắn. Tuy nhiên, nếu cô lập lời nói của bác sĩ Y-éc-xanh trong cuộc thoại này thì ta được một đoạn độc thoại. Vị trí, vai trò của hội thoại trong đời sống, trong văn chương và trong nhà trường Trong đời sống, giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu của mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Trên thực tế, con người có thể giao tiếp bằng nhiều cách, nhiều phương tiện khác nhau như ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ kí hiệu, tín hiệu,… Tuy nhiên, hội thoại vẫn là cách giao tiếp thường xuyên và quan trọng nhất, đảm nhiệm chức năng thông tin, chức năng tạo lập các quan hệ, chức năng giải trí và chức năng tự biểu hiện. + Chức năng thông tin còn gọi là chức năng thông báo. Thông báo có nghĩa là trao đổi cho nhau những tin tức dưới dạng nhận thức, những tư tưởng có được từ hiện thực. Đây là chức năng thường gặp nhất của giao tiếp.
15 Luan van Ví dụ: Tiếng Việt 3 – Tập 2 – Trang 96 – Bài “Xếp thứ ba” Chinh khoe với Tín: - Bạn Vinh lớp mình là một vận động viên điền kinh. Tháng trước có cuộc thi, bạn ấy về thứ ba đấy. Cậu có tin không? Tín hỏi: - Có bao nhiêu người thi mà bạn ấy đứng thứ ba? - À, à. Đấy là một cuộc thi ở nhóm học tập.
Có ba học sinh tham gia thôi. Truyện vui + Chức năng tạo lập các quan hệ: Khi các nhân vật nói với nhau nghĩa là tiếp tục xây dựng quan hệ thân hữu với nhau. + Chức năng giải trí: Nghỉ ngơi, giải trí là một nhu cầu của con người. Sau những buổi làm việc căng thẳng, mọi người thường trò chuyện, tâm sự cùng bạn bè.
Những câu chuyện phiếm trong lúc tán gẫu có ý nghĩa tích cực đối với con người. + Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp, con người tự biểu hiện mình. Người nói thể hiện tình cảm, sở thích, khuynh hướng, trạng thái tâm hồn trong lời nói của mình. - Trong văn chương, hội thoại cũng chiếm vị trí quan trọng.
Các nhân vật trò chuyện, trao đổi với nhau tạo nên nhiều cuộc hội thoại khác nhau trong dòng diễn biến của cốt truyện. Các cuộc hội thoại góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, bộc lộ mâu thuẫn, thúc đẩy sự phát triển của tình tiết truyện, của các tính cách nhân vật. Ví dụ: Tiếng Việt 3 – Tập 2 – Trang 14 – Bài “Ở lại với chiến khu” Lượm bước tới gần đống lửa. Giọng em rung lên: - Em xin được ở lại.
Em thà chết trên chiến khu còn hơn về ở chung, ở lộn với tụi Tây, tụi Việt gian… Cả đội nhao nhao: - Chúng em xin ở lại. Mừng nói như van lơn: - Chúng em còn nhỏ, chưa làm được chi nhiều thì trung đoàn cho chúng em ăn ít cũng được. Đừng bắt chúng em phải về, tội chúng em lắm, anh nờ… Theo PHÙNG QUÁN 16 Luan van Qua cuộc hội thoại giữa trung đoàn trưởng và các chiến sĩ nhỏ tuổi, các anh đã thể hiện sự quyết tâm, tinh thần anh dũng chiến đấu, quyết hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. - Trong nhà trường, hội thoại đóng vai trò là công cụ thiết yếu để giáo viên truyền đạt kiến thức đến học sinh, cũng như các học sinh trao đổi, thảo luận với nhau về bài học.
Việc đưa hội thoại vào nhà trường đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nội dung cũng như phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ và dạy ngoại ngữ. Bản chất của hội thoại Hội thoại vừa là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ, vừa là một hiện tượng xã hội. Cả hai bản chất đó đều bộc lộ và chi phối các hoạt động xã hội. + Hội thoại là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ vì khi có hội thoại, ngôn ngữ mới thực hiện được chức năng quan trọng của nó: chức năng giao tiếp.
Chính trong hội thoại ngôn ngữ mới phát huy đầy đủ đặc điểm, sức mạnh, vẻ đẹp,… của nó. Bản chất ngôn ngữ của hội thoại, về mặt sư phạm là nói đến mối quan hệ giữa kinh nghiệm sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, hội thoại của cá nhân học sinh và yêu cầu dạy hội thoại của nhà trường. Bản chất ngôn ngữ của hội thoại chính là tính chất giao tiếp của nó, tức là phải quan tâm đến các nhân tố tham gia vào cuộc hội thoại như ngữ cảnh, ngôn ngữ và văn bản. + Hội thoại là một hiện tượng xã hội vì nó nảy sinh và tồn tại chỉ trong các cộng đồng người, trong xã hội loài người.
Con người sử dụng hội thoại như là một công cụ đắc lực để trao đổi thông tin, giao lưu tình cảm, gắn kết các cá thể với nhau tạo thành một cộng đồng. Bản chất xã hội của hội thoại là đề cập đến mục đích, nội dung hội thoại, là gắn hội thoại với các hoạt động xã hội. Hoạt động xã hội là hoạt động giao tiếp gắn chặt với các quy tắc ứng xử trong xã hội, thể hiện trình độ văn minh của con người. Học các quy tắc hội thoại, người học thực ra đã tiếp nhận nhiều quy tắc đạo đức, nhiều phép ứng xử văn mnh,… Vì thế, dạy hội thoại cho học sinh tiểu học đồng thời cũng là dạy đạo đức, dạy văn hóa ứng xử cho các em.