Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu và là công cụ trực tiếp của tư duy. Trong hệ thống ngôn ngữ, ngôn ngữ âm thanh (lời nói) giữ mối quan hệ mật thiết với chất lượng học tập cũng như quá trình rèn luyện kỹ năng nghe - nói của học sinh ở bậc tiểu học. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, việc giảng dạy tiếng mẹ đẻ theo quan điểm giao tiếp đã trở thành nguyên tắc định hướng căn bản, đúng như quan điểm của M. Lơvốp: "Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp thì lời nói là bản thân sự giao tiếp, giao tiếp ngôn ngữ". Ở trường tiểu học, môn Tiếng Việt đảm nhiệm việc phát triển toàn diện bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; trong đó, phân môn Tập làm văn giữ vai trò quyết định trong việc rèn luyện năng lực sản sinh ngôn bản, đặc biệt là kỹ năng hội thoại. Tuy nhiên, việc dạy khẩu ngữ hội thoại trong thực tế nhà trường còn gặp nhiều rào cản về mặt phương pháp và phân bổ thời lượng. Xuất phát từ lý do trên, tác giả Lê Thị Phương Thảo thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 qua phân môn Tập làm văn" tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (năm 2018).
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng việc rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, tác giả đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 qua phân môn Tập làm văn.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nội dung theo văn bản:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng về việc rèn kĩ năng hội thoại của học sinh lớp 3 thông qua phân môn Tập làm văn.
- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3.
Khách thể nghiên cứu của đề tài là quá trình rèn luyện kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3. Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là hoạt động rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 qua phân môn Tập làm văn.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Phạm vi không gian và đối tượng khảo sát: Giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 và học sinh khối lớp 3 tại hai cơ sở giáo dục là Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ và Trường Tiểu học Bế Văn Đàn thuộc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và hoàn thành công trình vào tháng 01 năm 2018.
- Phạm vi nội dung chuyên môn: Nội dung dạy học, chương trình và các giờ học phân môn Tập làm văn lớp 3 trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3 hiện hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc kế thừa các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học và phương pháp dạy học Tiếng Việt tiêu biểu:
- Lý thuyết hội thoại: Dựa trên công trình Đại cương Ngôn ngữ học (2007) của Đỗ Hữu Châu, tác giả vận dụng các khái niệm về bản chất hội thoại, các nhân tố giao tiếp (nhân vật hội thoại, quan hệ vị thế ngang vai/không ngang vai, quan hệ thân hữu thân/sơ, đề tài, hoàn cảnh giao tiếp rộng/hẹp, mục đích giao tiếp), các đặc điểm của ngôn ngữ nói (từ ngữ toàn dân, địa phương, nói tắt, cấu trúc giản lược, ngữ điệu, yếu tố phi ngôn ngữ) và hệ thống đơn vị hội thoại (cuộc thoại, đoạn thoại, tham thoại, cặp thoại).
- Các quy tắc và nguyên tắc hội thoại: Luận văn phân tích quy tắc luân phiên lượt lời; nguyên tắc cộng tác hội thoại của H. P. Grice (phương châm về lượng, chất, quan hệ, cách thức) và các biểu thức rào đón; nguyên tắc tôn trọng thể diện; nguyên tắc khiêm tốn; quy tắc liên kết hội thoại; phép lịch sự theo C. Kerbrat-Orecchioni (lịch sự quy ước và lịch sự chiến lược); phân loại ngữ vực theo M. A. K. Halliday (ngữ vực quy thức, thân tình, phi quy thức).
- Phương pháp dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp: Khóa luận tiếp thu luận điểm từ Hoạt động giao tiếp với dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (2011) của Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga về bốn giai đoạn của hoạt động lời nói (định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa chương trình, kiểm tra kết quả); tài liệu bồi dưỡng giáo viên của Lê A, Phan Phương Dung, Đặng Thị Kim Nga, Vũ Thị Kim Hoa, Đỗ Xuân Thảo (2007); và chuyên khảo của Nguyễn Trí (2009) về dạy học hội thoại và độc thoại.
- Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 3: Phân tích sự chuyển dịch trong nhận thức (tư duy trực quan hình tượng chuyển dần sang tư duy trừu tượng, chú ý có chủ định phát triển, ngôn ngữ giàu vốn từ nhưng còn lỗi phát âm) và đặc điểm nhân cách (tính cách chưa ổn định, hành vi có tính xung động, thích bắt chước, tình cảm gắn liền với sự vật sinh động trực quan).
Tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết: Nghiên cứu các tài liệu ngôn ngữ học, tâm lý học và giáo dục học liên quan đến hội thoại và rèn kỹ năng giao tiếp.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê số lượng bài tập, phân loại các dạng bài dạy hội thoại trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3; sử dụng công thức toán học tính tổng số và tỉ lệ phần trăm dữ liệu điều tra.
- Phương pháp phỏng vấn: Trò chuyện trực tiếp với học sinh lớp 3 vào giờ ra chơi sau các tiết học Tập làm văn.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ các tiết dạy Tập làm văn tại các lớp 3/1, 3/2, 3/3, 3/4, 3/7 để ghi nhận cách thức tổ chức dạy học của giáo viên và phản ứng ngôn ngữ của học sinh.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket): Sử dụng phiếu khảo sát gồm các câu hỏi đóng và mở đối với 12 giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt 3 và 180 học sinh lớp 3 tại hai trường tiểu học khảo sát.
- Phương pháp toán học: Xử lý và tính toán số liệu thống kê thu được từ các bảng hỏi.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm ngữ liệu sách giáo khoa Tiếng Việt 3 (Tập 1 và Tập 2), hệ thống văn bản lý luận dạy học Tiếng Việt, cùng dữ liệu khảo sát thực tế từ 12 phiếu khảo sát giáo viên và 180 phiếu khảo sát học sinh tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lí luận chung liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hội thoại và dạy học phân môn Tập làm văn ở lớp 3. Tác giả làm rõ khái niệm hội thoại, phân biệt hội thoại với độc thoại dựa trên tiêu chí số lượng lượt lời (độc thoại một lượt lời, hội thoại từ hai lượt lời trở lên) và cách triển khai nội dung. Nghiên cứu xác lập vị trí của hội thoại qua các chức năng xã hội: thông báo, tạo lập quan hệ, giải trí và tự biểu hiện; đồng thời khẳng định hai bản chất song song của hội thoại là hiện tượng ngôn ngữ và hiện tượng xã hội mang tính văn hóa ứng xử.
Tác giả phân tích cấu trúc đơn vị hội thoại theo cấp độ từ lớn đến nhỏ: cuộc thoại (gồm đoạn mở đầu, thân cuộc thoại, đoạn kết thúc), đoạn thoại, tham thoại và cặp thoại (cặp một tham thoại, hai tham thoại, ba tham thoại). Đi sâu vào chương trình Tiếng Việt 3, khóa luận đối chiếu và chỉ ra rằng nội dung dạy độc thoại (kể chuyện, tường thuật, miêu tả, viết báo cáo) hiện chiếm dung lượng vượt trội so với hội thoại. Các bài tập rèn luyện hội thoại phân bố không đồng đều giữa các tuần và được phân loại thành 3 dạng chính:
- Dạng bài trao đổi theo chủ đề cho trước: Xuất hiện ở tuần 1 (chủ điểm Măng non), tuần 11 (chủ điểm Quê hương), tuần 12 (chủ điểm Bắc – Trung – Nam), tuần 14 (chủ điểm Anh em một nhà), tuần 31 (chủ điểm Ngôi nhà chung).
- Dạng bài tự tổ chức một chủ đề để trao đổi: Xuất hiện ở tuần 5 (chủ điểm Tới trường - tập tổ chức cuộc họp tổ) và tuần 7 (chủ điểm Cộng đồng).
- Dạng bài rèn kĩ năng trao đáp thông qua quan sát tranh: Xuất hiện ở tuần 21 (chủ điểm Sáng tạo).
Chương 2. Thực trạng việc rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng rèn kỹ năng hội thoại tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ và Trường Tiểu học Bế Văn Đàn trên hai đối tượng: 12 giáo viên và 180 học sinh.
Khảo sát đối với 12 giáo viên cho thấy:
- Về nhận thức: 100% (12/12) giáo viên định nghĩa đúng bản chất của hội thoại; 75% (9/12) đánh giá việc rèn kĩ năng hội thoại là "Rất cần thiết", 16,7% (2/12) cho là "Cần thiết" và 8,3% (1/12) cho là "Bình thường". 100% giáo viên nhất trí rằng mục đích của việc rèn kỹ năng này bao gồm: giúp học sinh tự tin giao tiếp, thiết lập quan hệ tốt đẹp và nâng cao vốn hiểu biết.
- Về phương pháp dạy học: Giáo viên sử dụng rất thường xuyên phương pháp thực hành - luyện tập (100%), thảo luận nhóm (91,7%) và đóng vai (75%). Đáng chú ý, phương pháp thuyết trình, giảng giải vẫn được dùng ở mức rất thường xuyên (58,3%) và thường xuyên (25%), trong khi phương pháp trò chơi học tập có tới 66,7% giáo viên không bao giờ dùng và phương pháp nêu - giải quyết vấn đề có 58,3% không bao giờ dùng.
- Về hình thức tổ chức: Nhóm học tập được 100% giáo viên sử dụng thường xuyên; hình thức cá nhân đạt 58,3% thường xuyên; hình thức cả lớp chỉ đạt 25% thường xuyên và 75% thỉnh thoảng sử dụng.
- Về đánh giá năng lực hội thoại của học sinh lớp 3 theo các tiêu chí:
| STT |
Kĩ năng hội thoại |
Tốt (%) |
Khá (%) |
Trung bình (%) |
Yếu (%) |
| 1 |
Kĩ năng hỏi - đáp thông qua quan sát tranh |
75,0 |
25,0 |
0,0 |
0,0 |
| 2 |
Kĩ năng trao đổi theo chủ đề cho trước |
25,0 |
66,7 |
8,3 |
0,0 |
| 3 |
Kĩ năng tự tổ chức một chủ đề để trao đổi |
16,7 |
8,3 |
58,3 |
16,7 |
- Về hạn chế của học sinh theo nhận định của giáo viên: 91,7% học sinh vi phạm quy tắc hội thoại; 75,0% học sinh chưa mạnh dạn và tự tin khi giao tiếp; 16,7% học sinh biến lời thoại thành độc thoại; 8,3% chưa biết tương tác bằng ánh mắt.
- Về khó khăn của giáo viên: 100% giáo viên khẳng định sự hạn chế về thời lượng tiết học (35 phút) là rào cản lớn nhất; 83,3% gặp khó khăn do học sinh chưa mạnh dạn; 41,7% do thiếu sự phối hợp từ phụ huynh; 8,3% do học sinh chưa hứng thú với phân môn; 0% giáo viên gặp hạn chế về cơ sở vật chất.
Khảo sát đối với 180 học sinh lớp 3 cho thấy:
- Về thái độ và sự yêu thích: 86,1% (155 em) rất thích học Tập làm văn, 10,6% (19 em) thích và 3,3% (6 em) không thích. Tuy nhiên, khi lựa chọn kiểu bài tập ưa thích, có 55,6% học sinh chọn kiểu bài trình bày bằng chữ viết, 36,1% chọn cả hai kiểu bài, và chỉ 8,3% học sinh yêu thích kiểu bài trình bày bằng lời nói.
- Về mức độ phát biểu trong giờ Tập làm văn: 20,6% (37 em) phát biểu thường xuyên; 63,3% (114 em) thỉnh thoảng phát biểu; 16,1% (29 em) không bao giờ phát biểu.
- Về khó khăn khi nói trước lớp: 36,7% (66 em) ngập ngừng, ấp úng; 35,5% (64 em) nói nhỏ; 26,7% (48 em) cảm thấy run, thiếu tự tin; 1,1% (2 em) không dám phát biểu.
- Về thực hành đóng vai: 70,0% học sinh rất thích tham gia đóng vai; sau khi đóng vai có 76,7% cảm thấy vui và tự tin hơn trong giao tiếp, 13,9% thấy bình thường, 9,4% thấy ngại ngùng, xấu hổ.
- Đối chiếu thực tế quan sát dự giờ: Tại lớp 3/3 (tiết "Tập tổ chức cuộc họp", tuần 5), tác giả phát hiện nhiều học sinh làm việc riêng, một số nhóm tranh cãi do không thống nhất chủ đề. Xuất hiện tình trạng học sinh vi phạm nghiêm trọng quy tắc luân phiên lượt lời (cướp lời nhau) và vi phạm phép lịch sự tôn trọng thể diện khi thảo luận chuẩn bị văn nghệ 20/11 (một học sinh thẳng thừng gạt bỏ ý kiến của bạn: "Thôi, tớ không đồng ý! Vì làm thiệp vừa tốn công, tốn tiền nữa"). Mặc dù trên phiếu khảo sát có 100% học sinh khẳng định mình nói đúng chủ đề và không nói tục/bác bỏ ý kiến bạn bè, 99,4% khẳng định không cướp lời, nhưng quan sát thực tế chứng minh học sinh chưa tự đánh giá chính xác hành vi giao tiếp của bản thân.
Chương 3. Đề xuất các biện pháp rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3
Dựa trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng, tác giả xác lập 4 nguyên tắc sư phạm định hướng cho các biện pháp đề xuất:
- Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức của học sinh: Nội dung và yêu cầu hội thoại phải tương thích với vốn từ, năng lực nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 3.
- Nguyên tắc đảm bảo nội dung và mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt: Bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình và phân môn Tập làm văn lớp 3.
- Nguyên tắc đề cao sự sáng tạo, tích cực của học sinh: Chuyển hóa vai trò của học sinh từ thụ động lắng nghe sang chủ động kiến tạo lời thoại, tương tác đa chiều.
- Nguyên tắc chú trọng các quy tắc hội thoại: Rèn luyện thường xuyên quy tắc luân phiên lượt lời, phép lịch sự, phương châm cộng tác và việc sử dụng các biểu thức rào đón phù hợp.
Trên nền tảng 4 nguyên tắc đó, tác giả xây dựng hệ thống các biện pháp thực thi:
- Xây dựng hệ thống bài tập dạy hội thoại: Phân tách thành hai cấp độ luyện tập chuyên biệt:
- Hệ thống bài tập dạy đoạn thoại: Rèn luyện khả năng thực hiện các cặp trao - đáp ngắn gọn, tập trung vào liên kết ngữ nghĩa và mục đích nói trực tiếp.
- Hệ thống bài tập dạy cuộc thoại: Rèn luyện cấu trúc hoàn chỉnh của một cuộc hội thoại từ phần mở đầu, diễn biến thương lượng chủ đề đến phần kết thúc cuộc thoại.
- Thiết kế và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Xác định nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phong phú để tạo môi trường giao tiếp tự nhiên, giải phóng áp lực thời gian 35 phút của tiết học chính khóa.
- Xây dựng mô hình Câu lạc bộ Văn học: Đề xuất mục đích hoạt động rõ ràng nhằm tạo không gian sinh hoạt ngôn ngữ tự nguyện, đồng thời phác thảo kế hoạch hoạt động định kỳ để học sinh rèn luyện kỹ năng nói, tranh luận và ứng xử văn hóa qua các chuyên đề văn học.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã cung cấp một bức tranh toàn diện và chính xác về thực trạng dạy và học khẩu ngữ hội thoại ở lớp 3 qua dữ liệu thực nghiệm:
- Chỉ ra độ lệch lớn trong năng lực học sinh: Học sinh đạt mức tốt ở kỹ năng hỏi - đáp qua quan sát tranh (75%), nhưng tụt dốc rõ rệt ở kỹ năng tự tổ chức chủ đề trao đổi khi có tới 58,3% trung bình và 16,7% yếu (tổng mức trung bình và yếu chiếm 75%).
- Định lượng nguyên nhân khó khăn từ phía sư phạm: 100% giáo viên chịu áp lực về thời lượng 35 phút của tiết học; giáo viên vẫn lệ thuộc vào phương pháp thuyết trình (58,3% rất thường xuyên) và hầu như bỏ quên trò chơi học tập (66,7% không bao giờ dùng).
- Bóc tách sự mâu thuẫn giữa nhận thức và thực tế: Dù 81,7% học sinh nhận thức luyện nói rất quan trọng, nhưng có tới 55,6% học sinh chỉ thích bài tập viết, chỉ 20,6% học sinh thường xuyên phát biểu và 72,2% học sinh gặp rào cản tâm lý khi nói (ngập ngừng, ấp úng, nói nhỏ).
Về giải pháp và đóng góp khoa học:
- Tác giả đề xuất hệ thống 4 nguyên tắc sư phạm và 3 giải pháp can thiệp có tính khả thi, bao gồm: phân hóa bài tập rèn hội thoại theo hai cấp độ (đoạn thoại và cuộc thoại), mở rộng không gian rèn luyện sang hoạt động ngoài giờ lên lớp, và thiết lập mô hình sinh hoạt Câu lạc bộ Văn học.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận giải quyết khoảng trống nghiên cứu sư phạm khi các công trình đi trước (như của Đỗ Hữu Châu, Phan Phương Dung, Đặng Kim Nga, Nguyễn Trí) chủ yếu bàn về lý thuyết hội thoại đại cương hoặc phương pháp dạy giao tiếp chung cho tiểu học, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về nội dung và phương pháp rèn kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 thông qua một phân môn cụ thể là Tập làm văn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài được tác giả và phạm vi nghiên cứu phản ánh:
- Tác giả tự nhận định do thời gian có hạn, năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu ban đầu của sinh viên còn hạn chế nên công trình khó tránh khỏi thiếu sót.
- Không gian khảo sát giới hạn tại hai trường tiểu học (Huỳnh Ngọc Huệ và Bế Văn Đàn) trên cùng địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, với quy mô mẫu 12 giáo viên và 180 học sinh, do đó chưa bao quát được sự khác biệt vùng miền hoặc các mô hình trường tiểu học đa dạng khác.
- Đề tài dừng lại ở việc khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp, chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm dạy đối chứng để đo lường định lượng mức độ tiến bộ của học sinh trước và sau khi áp dụng hệ thống bài tập và biện pháp mới.
Hướng mở nghiên cứu tiếp:
- Triển khai thực nghiệm sư phạm trên các lớp đối chứng và thực nghiệm tại nhiều cơ sở giáo dục tiểu học khác nhau nhằm thẩm định tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
- Nghiên cứu biên soạn tài liệu hướng dẫn chi tiết về quy trình tổ chức Câu lạc bộ Văn học tiểu học phục vụ phát triển kỹ năng hội thoại.
Giá trị tham khảo
Báo cáo nghiên cứu của khóa luận mang lại giá trị thực tiễn đối với các nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học: Là tài liệu tham khảo cụ thể về phương pháp nghiên cứu sư phạm, quy trình thiết kế bảng hỏi Anket, kỹ thuật quan sát dự giờ và cách ứng dụng lý thuyết ngữ dụng học (hội thoại) vào phân môn Tập làm văn lớp 3.
- Giáo viên tiểu học đang giảng dạy môn Tiếng Việt 3: Cung cấp danh mục các dạng bài tập hội thoại trong sách giáo khoa hiện hành, nhận diện các lỗi ngôn ngữ điển hình của học sinh (vi phạm luân phiên lượt lời, vi phạm thể diện, lỗi phát âm, thiếu tương tác cử chỉ), từ đó gợi ý cách khắc phục thông qua hoạt động đóng vai, làm việc nhóm và sinh hoạt câu lạc bộ.
- Cán bộ nghiên cứu chương trình và phương pháp: Cung cấp cứ liệu thực nghiệm phản ánh tình trạng quá tải thời lượng và sự bất cập trong phân bổ bài tập khẩu ngữ của chương trình Tập làm văn lớp 3, phục vụ công tác điều chỉnh nội dung dạy học tiếng Việt theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực.
Câu hỏi thường gặp
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 phân chia nội dung rèn kĩ năng hội thoại trong phân môn Tập làm văn thành các dạng bài nào?
Theo kết quả phân loại của tác giả ở Chương 1, các bài tập hội thoại được chia thành 3 dạng: Dạng bài trao đổi theo chủ đề cho trước (các tuần 1, 11, 12, 14, 31); Dạng bài tự tổ chức một chủ đề để trao đổi (các tuần 5, 7); và Dạng bài rèn kĩ năng trao đáp thông qua quan sát tranh (tuần 21).
2. Kĩ năng hội thoại nào của học sinh lớp 3 bị giáo viên đánh giá ở mức yếu kém nhiều nhất?
Đó là kĩ năng tự tổ chức một chủ đề để trao đổi. Theo Bảng 1.7, có tới 58,3% giáo viên xếp loại học sinh ở mức trung bình và 16,7% ở mức yếu; tỉ lệ đạt loại giỏi chỉ có 16,7% và khá là 8,3%. Nguyên nhân do học sinh lúng túng trong khâu thương lượng, thiếu kỹ năng lãnh đạo và chưa biết cách thống nhất chủ đề.
3. Khó khăn lớn nhất mà 100% giáo viên khảo sát đều gặp phải trong giờ Tập làm văn rèn hội thoại là gì?
Khó khăn lớn nhất được 12/12 giáo viên (100%) chỉ ra tại Bảng 1.9 là sự hạn chế về thời lượng của tiết học (mỗi tiết chỉ kéo dài 35 phút), trong khi lượng kiến thức cần truyền tải lớn, khiến giáo viên không đủ thời gian cho toàn bộ học sinh được thực hành mà thường chỉ gọi một vài nhóm mẫu.
4. Qua quan sát dự giờ tiết học "Tập tổ chức cuộc họp" (tuần 5, lớp 3/3), tác giả đã ghi nhận những lỗi vi phạm quy tắc hội thoại cụ thể nào ở học sinh?
Tác giả ghi nhận học sinh mắc hai lỗi phổ biến: vi phạm quy tắc luân phiên lượt lời (tranh cãi, cướp lời của nhau trong nhóm) và vi phạm phép lịch sự tôn trọng thể diện (một học sinh đã thẳng thừng bác bỏ ý kiến làm thiệp tặng thầy cô ngày 20/11 của bạn bằng lời nói thiếu tế nhị: "Thôi, tớ không đồng ý! Vì làm thiệp vừa tốn công, tốn tiền nữa").
5. Các biện pháp đề xuất ở Chương 3 của khóa luận bao gồm những nhóm giải pháp nào?
Tác giả đề xuất 3 nhóm biện pháp chính: (1) Xây dựng hệ thống bài tập dạy hội thoại phân theo bài tập dạy đoạn thoại và bài tập dạy cuộc thoại; (2) Thiết kế và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp để mở rộng môi trường thực hành; (3) Xây dựng mô hình Câu lạc bộ Văn học với mục đích và kế hoạch hoạt động cụ thể.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Phương Thảo đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề rèn luyện kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 qua phân môn Tập làm văn từ góc độ lý luận ngữ dụng học và thực tiễn sư phạm. Bằng các phương pháp điều tra định lượng và dự giờ quan sát tại hai trường tiểu học quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, công trình đã làm sáng tỏ thực trạng học sinh còn thụ động, yếu kỹ năng tự tổ chức cuộc thoại và thường xuyên vi phạm các quy tắc hội thoại. Hệ thống giải pháp gồm 4 nguyên tắc sư phạm, hệ thống bài tập đoạn thoại - cuộc thoại và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được đề xuất là tài liệu chuyên môn có giá trị thực tiễn đối với công tác giảng dạy môn Tiếng Việt ở tiểu học.