Luận Văn Tốt Nghiệp: Rèn Kỹ Năng Hội Thoại Cho Học Sinh Lớp 3 Qua Tập Làm Văn

Tài liệu chuyên sâu Rèn Kỹ Năng Hội Thoại Cho Học Sinh Lớp 3 Qua Tập Làm Văn, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho chuyên

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

79
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI THOẠI

1.1.1. Khái niệm hội thoại

1.1.2. Hội thoại và độc thoại

1.1.3. Vị trí, vai trò của hội thoại trong đời sống, trong văn chương và trong nhà trường

1.1.4. Bản chất của hội thoại

1.1.5. Các nhân tố giao tiếp và hội thoại. Các quy tắc hội thoại

1.1.5.1. Quy tắc luân phiên lượt lời
1.1.5.2. Quy tắc các phương châm hội thoại
1.1.5.3. Quy tắc liên kết hội thoại
1.1.5.4. Phép lịch sự
1.1.5.5. Các biểu thức rào đón
1.1.5.6. Các đơn vị hội thoại

1.2. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ LỨA TUỔI HỌC SINH TIỂU HỌC

1.2.1. Đặc điểm nhận thức

1.2.2. Cảm giác, tri giác

1.2.3. Đặc điểm nhân cách

1.3. VAI TRÒ CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG HỘI THOẠI CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.3.1. Rèn kĩ năng hội thoại trong việc hình thành và phát triển nhân cách

1.3.2. Thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống

1.4. PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN TRONG MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 3

1.4.1. Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học

1.4.2. Nội dung chương trình phân môn Tập làm văn ở lớp 3

1.4.3. Nội dung dạy hội thoại qua phân môn Tập làm văn lớp 3

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC RÈN KĨ NĂNG HỘI THOẠI CHO HỌC SINH LỚP 3

2.1. TIÊU CHÍ KHẢO SÁT

2.2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT

2.2.1. Kết quả khảo sát giáo viên

2.2.2. Kết quả khảo sát học sinh

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG HỘI THOẠI CHO HỌC SINH LỚP 3

3.1. NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức của học sinh

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo nội dung và mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt

3.1.3. Nguyên tắc đề cao sự sáng tạo, tích cực của học sinh

3.1.4. Nguyên tắc chú trọng các quy tắc hội thoại

3.2. CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG HỘI THOẠI CHO HỌC SINH LỚP 3

3.2.1. Xây dựng hệ thống bài tập dạy hội thoại

3.2.2. Bài tập dạy đoạn thoại

3.2.3. Bài tập dạy cuộc thoại

3.2.4. Thiết kế và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp để rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3

3.2.4.1. Nội dung của hoạt động ngoài giờ lên lớp
3.2.4.2. Xây dựng Câu lạc bộ Văn học
3.2.4.2.1. Mục đích hoạt động của Câu lạc bộ Văn học
3.2.4.2.2. Kế hoạch hoạt động

3.3. Tiểu kết chương 3

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về kỹ năng hội thoại

Kỹ năng hội thoại là một phần quan trọng trong giao tiếp, đặc biệt đối với học sinh lớp 3. Việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp không chỉ giúp học sinh phát triển ngôn ngữ mà còn hình thành nhân cách và khả năng tương tác xã hội. Theo Đỗ Hữu Châu, hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến, là cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng hội thoại ngay từ những năm đầu đời. Học sinh lớp 3, trong giai đoạn phát triển tâm lý, cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động giao tiếp để nâng cao khả năng diễn đạt và tự tin trong giao tiếp. Việc này không chỉ giúp các em trong học tập mà còn trong cuộc sống hàng ngày.

1.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học

Học sinh lớp 3 thường có những đặc điểm tâm lý đặc trưng như tính tò mò, ham học hỏi và khả năng tiếp thu nhanh. Ở độ tuổi này, các em bắt đầu hình thành các mối quan hệ xã hội và cần được hướng dẫn để phát triển kỹ năng xã hội. Việc rèn luyện kỹ năng hội thoại giúp các em tự tin hơn trong việc giao tiếp với bạn bè và giáo viên. Các hoạt động như thảo luận nhóm, đóng vai trong các tình huống giao tiếp sẽ giúp các em cải thiện khả năng lắng nghe và phản hồi, từ đó nâng cao kỹ năng viếtphát triển ngôn ngữ.

II. Vai trò của việc rèn kỹ năng hội thoại

Việc rèn luyện kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách. Kỹ năng này không chỉ giúp các em giao tiếp hiệu quả mà còn tạo điều kiện cho việc thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống. Theo nghiên cứu, việc tham gia vào các hoạt động hội thoại giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Điều này rất cần thiết trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi mà kỹ năng xã hội ngày càng trở nên quan trọng.

2.1. Tác động đến sự phát triển ngôn ngữ

Rèn luyện kỹ năng hội thoại không chỉ giúp học sinh cải thiện khả năng nói mà còn nâng cao khả năng nghe. Khi tham gia vào các cuộc hội thoại, học sinh sẽ học được cách lắng nghe và phản hồi một cách hợp lý. Điều này không chỉ giúp các em trong việc học tập mà còn trong việc xây dựng các mối quan hệ xã hội. Việc thực hành hội thoại qua phân môn Tập làm văn sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng viết một cách tự nhiên và hiệu quả hơn.

III. Phương pháp rèn luyện kỹ năng hội thoại

Để rèn luyện kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 3, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Các hoạt động như thảo luận nhóm, đóng vai, và tổ chức các buổi giao lưu sẽ giúp học sinh có cơ hội thực hành và cải thiện kỹ năng giao tiếp. Việc xây dựng hệ thống bài tập dạy hội thoại cũng rất quan trọng. Các bài tập này cần được thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý và khả năng của học sinh lớp 3, từ đó giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp.

3.1. Xây dựng hệ thống bài tập dạy hội thoại

Hệ thống bài tập dạy hội thoại cần được xây dựng dựa trên các tình huống giao tiếp thực tế mà học sinh có thể gặp phải. Các bài tập này nên bao gồm các hoạt động như thảo luận nhóm, đóng vai, và các trò chơi giao tiếp. Việc này không chỉ giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp mà còn tạo ra môi trường học tập vui vẻ và sáng tạo. Hơn nữa, giáo viên cần chú trọng đến việc đánh giá và phản hồi để học sinh có thể nhận biết được sự tiến bộ của bản thân trong việc rèn luyện kỹ năng hội thoại.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài. Chương 2: Thực trạng rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 thông qua phân môn Tập làm văn. Chương 3: Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 3. - Phần kết luận 12 Luan van B.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI THOẠI 1. Khái niệm hội thoại Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ.

Nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”. [2, 201] Khi bàn về vấn đề hội thoại, tác giả Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga đã khẳng định: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời miệng giữa các nhân vật giao tiếp, nhằm trao đổi thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm,… theo một mục đích xác định.” [3, 13] Ví dụ: Tiếng Việt 5 – Tập 1 – Trang 135 – Bài “Chuỗi ngọc lam” Cửa lại mở, một thiếu nữ bước vào. Cô lấy trong túi xách ra chuỗi ngọc lam: - Chuỗi ngọc này có phải của tiệm ông không ạ? - Phải. - Thưa… Có phải ngọc thật không? - Không phải thứ ngọc quý nhất, nhưng là ngọc thật.

- Ông có nhớ đã bán cho ai không? - Một cô bé tên là Gioan mua tặng chị của mình. - Giá bao nhiêu ạ? - Tôi không khi nào nói giá tiền của quà tặng. - Gioan chỉ có ít tiền tiêu vặt. Làm sao em mua nổi chuỗi ngọc này? Pi-e gói lại chuỗi ngọc và đáp: - Em đã trả giá rất cao.

Bằng toàn bộ số tiền em có. PHUN-TƠN O-XLƠ (Nguyễn Hiến Lê dịch) Ví dụ trên là đoạn hội thoại giữa một thiếu nữ và Pi-e. Cô thiếu nữ tìm gặp Pi-e để trao đổi những thông tin về chuỗi ngọc được tặng. Đoạn thoại diễn ra nhằm làm sáng tỏ những thắc mắc của cô: + Liệu Gioan có mua chuỗi ngọc lam ở cửa hàng này không? 13 Luan van + Chuỗi ngọc này có phải là ngọc thật không? + Pi-e đã bán chuỗi ngọc thật này cho cô bé với giá bao nhiêu tiền? + Làm thế nào Gioan đã mua được chuỗi ngọc đắt tiền như vậy? Trong ví dụ trên, cuộc trao đổi diễn ra trực tiếp giữa hai nhân vật (Pi-e và thiếu nữ) có sự luân phiên lượt lời, người này nói thì người kia nghe và ngược lại người kia nói thì người này nghe.

Vai người nói và người nghe luôn có sự thay đổi với nhau. Như vậy, hội thoại chính là một hoạt động giao tiếp phổ biến, diễn ra trực tiếp giữa các nhân vật giao tiếp, nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,… theo mục đích giao tiếp nhất định. Hội thoại và độc thoại - Điểm giống nhau: Cả hội thoại và độc thoại đều có vấn đề đặt ra để giao tiếp, đích giao tiếp, không gian, thời gian và ngôn ngữ để giao tiếp. - Điểm khác nhau: Độc thoại Hội thoại Là lời một người nói với một hay Là cuộc trò chuyện tối thiểu nhiều người nghe không cần lời đáp giữa hai người trong đó lại.

Độc thoại cũng có thể là lời một Khái người nói và người nghe người tự nói với mình. Độc thoại niệm luôn có sự luân phiên lượt thường xuất hiện trong những hoàn lời, lúc người này nói thì cảnh như thuyết trình, báo cáo, phát người kia nghe và ngược lại. Số lƣợng Chỉ gồm một lượt lời Từ hai lượt lời trở lên lƣợt lời Cách Triển khai theo đích mà người nói Triển khai dựa vào hoàn triển khai đã vạch sẵn cảnh giao tiếp cụ thể nội dung Tuy nhiên, theo tác giả Đỗ Hữu Châu, sự phân biệt độc thoại và hội thoại chỉ mang tính tương đối. Trong một cuộc độc thoại cũng có thể xen vào những cuộc thoại ngắn hoặc nếu cô lập lời nói của một người trong cuộc thoại thì ta được lời độc thoại ngắn.

14 Luan van Ví dụ: Tiếng Việt 3 – Tập 2 – Trang 106 – Bài “Bác sĩ Y-éc-xanh” Bà khách thổ lộ nỗi băn khoăn của mình: - Y-éc-xanh kính mến, ông quên nước Pháp rồi ư? Ông định ở đây suốt đời sao? Y-éc-xanh lặng yên nhìn khách, hai bàn tay đan vào nhau, đặt trên đầu gối. - Tôi là người Pháp. Mãi mãi tôi là công dân Pháp. Người ta không thể nào sống mà không có Tổ quốc.

Ngừng một chút, ông tiếp: - Tuy nhiên, tôi với bà, chúng ta đang sống chung trong một ngôi nhà: trái đất. Trái đất đích thực là ngôi nhà của chúng ta. Những đứa con trong nhà phải thương yêu và có bổn phận giúp đỡ lẫn nhau. Tôi không thể rời khỏi Nha Trang này để sống ở nơi nào khác.

Chỉ có ở đây, tâm hồn tôi mới được rộng mở, bình yên. Hai người cùng im lặng. Họ nghe rõ tiếng biển thở dài, đổ nhẹ những con sóng thủy tinh vỡ vụn lên bờ cát. Theo CAO LINH QUÂN Ví dụ trên đây là cuộc trò chuyện diễn ra giữa hai người: bác sĩ Y-éc-xanh và một bà khách.

Y-éc-xanh lắng nghe câu hỏi của bà khách và đáp lại. Câu trả lời của Y-éc-xanh nhằm làm rõ nỗi băn khoăn của bà: Liệu Y-éc-xanh đã quên nước Pháp hay chưa? Liệu ông có định ở Nha Trang suốt đời hay không? Đây là một cuộc hội thoại ngắn. Tuy nhiên, nếu cô lập lời nói của bác sĩ Y-éc-xanh trong cuộc thoại này thì ta được một đoạn độc thoại. Vị trí, vai trò của hội thoại trong đời sống, trong văn chương và trong nhà trường Trong đời sống, giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu của mỗi cá nhân và toàn xã hội.

Trên thực tế, con người có thể giao tiếp bằng nhiều cách, nhiều phương tiện khác nhau như ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ kí hiệu, tín hiệu,… Tuy nhiên, hội thoại vẫn là cách giao tiếp thường xuyên và quan trọng nhất, đảm nhiệm chức năng thông tin, chức năng tạo lập các quan hệ, chức năng giải trí và chức năng tự biểu hiện. + Chức năng thông tin còn gọi là chức năng thông báo. Thông báo có nghĩa là trao đổi cho nhau những tin tức dưới dạng nhận thức, những tư tưởng có được từ hiện thực. Đây là chức năng thường gặp nhất của giao tiếp.

15 Luan van Ví dụ: Tiếng Việt 3 – Tập 2 – Trang 96 – Bài “Xếp thứ ba” Chinh khoe với Tín: - Bạn Vinh lớp mình là một vận động viên điền kinh. Tháng trước có cuộc thi, bạn ấy về thứ ba đấy. Cậu có tin không? Tín hỏi: - Có bao nhiêu người thi mà bạn ấy đứng thứ ba? - À, à. Đấy là một cuộc thi ở nhóm học tập.

Có ba học sinh tham gia thôi. Truyện vui + Chức năng tạo lập các quan hệ: Khi các nhân vật nói với nhau nghĩa là tiếp tục xây dựng quan hệ thân hữu với nhau. + Chức năng giải trí: Nghỉ ngơi, giải trí là một nhu cầu của con người. Sau những buổi làm việc căng thẳng, mọi người thường trò chuyện, tâm sự cùng bạn bè.

Những câu chuyện phiếm trong lúc tán gẫu có ý nghĩa tích cực đối với con người. + Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp, con người tự biểu hiện mình. Người nói thể hiện tình cảm, sở thích, khuynh hướng, trạng thái tâm hồn trong lời nói của mình. - Trong văn chương, hội thoại cũng chiếm vị trí quan trọng.

Các nhân vật trò chuyện, trao đổi với nhau tạo nên nhiều cuộc hội thoại khác nhau trong dòng diễn biến của cốt truyện. Các cuộc hội thoại góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, bộc lộ mâu thuẫn, thúc đẩy sự phát triển của tình tiết truyện, của các tính cách nhân vật. Ví dụ: Tiếng Việt 3 – Tập 2 – Trang 14 – Bài “Ở lại với chiến khu” Lượm bước tới gần đống lửa. Giọng em rung lên: - Em xin được ở lại.

Em thà chết trên chiến khu còn hơn về ở chung, ở lộn với tụi Tây, tụi Việt gian… Cả đội nhao nhao: - Chúng em xin ở lại. Mừng nói như van lơn: - Chúng em còn nhỏ, chưa làm được chi nhiều thì trung đoàn cho chúng em ăn ít cũng được. Đừng bắt chúng em phải về, tội chúng em lắm, anh nờ… Theo PHÙNG QUÁN 16 Luan van Qua cuộc hội thoại giữa trung đoàn trưởng và các chiến sĩ nhỏ tuổi, các anh đã thể hiện sự quyết tâm, tinh thần anh dũng chiến đấu, quyết hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. - Trong nhà trường, hội thoại đóng vai trò là công cụ thiết yếu để giáo viên truyền đạt kiến thức đến học sinh, cũng như các học sinh trao đổi, thảo luận với nhau về bài học.

Việc đưa hội thoại vào nhà trường đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nội dung cũng như phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ và dạy ngoại ngữ. Bản chất của hội thoại Hội thoại vừa là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ, vừa là một hiện tượng xã hội. Cả hai bản chất đó đều bộc lộ và chi phối các hoạt động xã hội. + Hội thoại là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ vì khi có hội thoại, ngôn ngữ mới thực hiện được chức năng quan trọng của nó: chức năng giao tiếp.

Chính trong hội thoại ngôn ngữ mới phát huy đầy đủ đặc điểm, sức mạnh, vẻ đẹp,… của nó. Bản chất ngôn ngữ của hội thoại, về mặt sư phạm là nói đến mối quan hệ giữa kinh nghiệm sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, hội thoại của cá nhân học sinh và yêu cầu dạy hội thoại của nhà trường. Bản chất ngôn ngữ của hội thoại chính là tính chất giao tiếp của nó, tức là phải quan tâm đến các nhân tố tham gia vào cuộc hội thoại như ngữ cảnh, ngôn ngữ và văn bản. + Hội thoại là một hiện tượng xã hội vì nó nảy sinh và tồn tại chỉ trong các cộng đồng người, trong xã hội loài người.

Con người sử dụng hội thoại như là một công cụ đắc lực để trao đổi thông tin, giao lưu tình cảm, gắn kết các cá thể với nhau tạo thành một cộng đồng. Bản chất xã hội của hội thoại là đề cập đến mục đích, nội dung hội thoại, là gắn hội thoại với các hoạt động xã hội. Hoạt động xã hội là hoạt động giao tiếp gắn chặt với các quy tắc ứng xử trong xã hội, thể hiện trình độ văn minh của con người. Học các quy tắc hội thoại, người học thực ra đã tiếp nhận nhiều quy tắc đạo đức, nhiều phép ứng xử văn mnh,… Vì thế, dạy hội thoại cho học sinh tiểu học đồng thời cũng là dạy đạo đức, dạy văn hóa ứng xử cho các em.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận Văn Tốt Nghiệp: Rèn Kỹ Năng Hội Thoại Cho Học Sinh Lớp 3 Qua Tập Làm Văn" của tác giả Lê Thị Phương Thảo, dưới sự hướng dẫn của Ths. Nguyễn Thị Thúy Nga, trình bày những phương pháp hiệu quả nhằm phát triển kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 3 thông qua việc tập làm văn. Bài luận không chỉ giúp học sinh cải thiện khả năng giao tiếp mà còn khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện. Đặc biệt, việc rèn luyện kỹ năng này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho các em trong việc học tập và giao tiếp trong tương lai.

Nếu bạn quan tâm đến các phương pháp giảng dạy khác trong giáo dục tiểu học, hãy tham khảo thêm bài viết "Thiết kế một số dự án trong dạy học môn Toán lớp 3", nơi cung cấp những dự án học tập thú vị cho môn Toán, hoặc bài viết "Luận văn thạc sĩ về phương pháp dạy học nói và nghe cho học sinh lớp 3", giúp nâng cao kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Luận văn thạc sĩ về tổ chức dự án học tập môn tự nhiên và xã hội lớp 3", một nghiên cứu về cách tổ chức các dự án học tập nhằm phát triển năng lực cho học sinh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và tìm hiểu thêm về các phương pháp giảng dạy hiệu quả trong giáo dục tiểu học.