CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lý thuyết về ngôn ngữ Ngay từ thời cổ đại người ta đã quan tâm đến vấn đề nguồn gốc của ngôn ngữ. Rất nhiều các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều thuyết khác nhau về nguồn gốc của ngôn ngữ. Trong các nhà ngôn ngữ đó, Nguyễn Thiện Giáp (1998) đã tổng hợp một số thuyết về ngôn ngữ như: Thuyết tượng thanh: là một hướng tiếp cận trong ngôn ngữ học, cho rằng các khái niệm và ý nghĩa của ngôn ngữ được truyền tải thông qua âm thanh, chứ không phải qua các đơn vị ngữ pháp hay từ vựng.
Thuyết tượng thanh đã xuất hiện từ thời cổ đại, nhưng phát triển mạnh vào thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, với công lao của những nhà ngôn ngữ học như Réné Descartes và Johann Gottfried Herder. Theo thuyết tượng thanh, các âm thanh của ngôn ngữ là những đơn vị cơ bản, chứa đựng sức mạnh biểu hiện, gợi lên các khái niệm và ý nghĩa. Các từ, cụm từ và câu hội tụ các âm thanh lại để truyền tải ý nghĩa và thông điệp. Theo các nhà ủng hộ thuyết tượng thanh, việc dùng âm thanh để truyền tải ý nghĩa có tính tổng quát và toàn diện hơn so với việc dùng từ vựng hay ngữ pháp.
Tuy nhiên, trong thực tế, việc tìm kiếm một ngôn ngữ toàn cầu hoàn hảo vẫn là một thách thức lớn. Ngôn ngữ không chỉ phản ánh văn hóa và lịch sử của một dân tộc mà còn phụ thuộc vào các yếu tố địa lý và xã hội. Mỗi ngôn ngữ đều có những đặc điểm riêng, có thể gây khó khăn trong việc dịch thuật và truyền tải ý nghĩa giữa các quốc gia và vùng miền. Trong tổng thể, thuyết tượng thanh vẫn là một chủ đề tranh luận đầy tranh cãi và không được chấp nhận rộng rãi trong giới học thuật và các nhà nghiên cứu ngôn ngữ.
Thuyết cảm thán: là một trong các thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ được phát triển mạnh vào thế kỉ XVIII và XIX. Theo thuyết này, ngôn ngữ bắt nguồn từ những cảm xúc cơ bản của con người, như mừng, giận dữ, buồn bã, 9 vui sướng, đau đớn và nhiều cảm xúc khác. Các nhà nghiên cứu lớn đã ủng hộ thuyết này bao gồm Giambattista Vico, Johann Gottfried von Herder, Jean- Jacques Rousseau và Wilhelm von Humboldt. Họ cho rằng các âm thanh cảm xúc đã trở thành cơ sở cho việc phát triển ngôn ngữ của loài người.
Những cảm xúc này đã tạo ra các nhóm từ vựng và cụm từ mang ý nghĩa tương ứng và từ đó dẫn đến sự phát triển của ngôn ngữ. Tuy nhiên, thuyết cảm thán đã bị phản đối và tranh luận bởi các nhà nghiên cứu khác. Chẳng hạn, Franz Boas và Edward Sapir tin rằng ngôn ngữ là sản phẩm của văn hóa và lịch sử của mỗi dân tộc, không phải chỉ đơn thuần bắt nguồn từ cảm xúc. Họ cho rằng các yếu tố lịch sử, văn hóa và xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến việc phát triển ngôn ngữ.
Thuyết ngôn ngữ cử chỉ: là một trong những thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ phát triển vào thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX. Những người chủ trương thuyết này bao gồm Wilhelm Wundt, August Schleicher và Ferdinand de Saussure. Họ cho rằng các biểu hiện cử chỉ như gesturing, pointing, và facial expression đã dần được sử dụng để truyền tải thông điệp và dần trở thành một hình thức ngôn ngữ. Tuy nhiên, thuyết ngôn ngữ cử chỉ đã bị phản đối bởi nhiều nhà nghiên cứu khác, nhưng trong những năm gần đây, sự quan tâm đến thuyết này lại được tái sinh và các nghiên cứu về ngôn ngữ cử chỉ đang ngày càng phát triển và thu hút sự quan tâm của cộng đồng khoa học.
Theo thuyết này, ban đầu con người sử dụng các bi từ các lý thuyết về ngôn ngữ, đặc biệt là những thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ, chúng ta có thể thấy rằng nghe - nói là yếu tố cấu thành vô cùng quan trọng. Các lý thuyết trên đã đưa ra những quan điểm chung về giao tiếp bằng ngôn ngữ, bao gồm: Thứ nhất: việc giao tiếp bằng ngôn ngữ không chỉ nhằm mục đích truyền tải thông tin mà còn chủ yếu là nhằm mục đích tác động. Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ, người nói hay người viết có thể sử dụng các từ ngữ, cấu trúc 10 câu, phong cách và cả nghệ thuật ngôn ngữ để có tác động đến người nghe hoặc người đọc của mình. Ví dụ, khi một diễn giả phát biểu trước công chúng, ông ta có thể sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để thuyết phục người nghe chấp nhận quan điểm của mình hoặc để kêu gọi họ hành động.
Người viết cũng có thể sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để truyền tải các ý tưởng, cảm xúc hay ý nghĩa một cách rõ ràng và hiệu quả. Tuy nhiên, việc sử dụng ngôn ngữ để tác động đến người khác cũng có thể gây ra những hiểu lầm hoặc tranh cãi. Vì vậy, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, rất quan trọng để người nói hay người viết có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác và hiệu quả, tránh gây hiểu lầm hoặc tranh cãi không đáng có. Thứ hai: theo quan điểm của hệ thống cấu trúc ngôn ngữ (structural linguistics), các yếu tố ngôn ngữ được coi là các yếu tố có sẵn, mang tính chất khép kín và đứng yên.
Các yếu tố này bao gồm âm, chữ, từ vựng, ngữ pháp và cú pháp. Hệ thống cấu trúc ngôn ngữ cho rằng các yếu tố này được xếp vào một hệ thống nhất định, tồn tại độc lập với ngữ nghĩa. Tuy nhiên, từ góc độ của giao tiếp, các yếu tố ngôn ngữ lại luôn luôn vận động và biến đổi. Ví dụ, trong giao tiếp hàng ngày, người ta có thể tạo ra các từ mới để diễn đạt ý nghĩa mới mà đối với hệ thống cấu trúc ngôn ngữ thì không có.
Hay các từ vựng có thể thay đổi ý nghĩa tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Ngữ pháp và cú pháp cũng có thể được thay đổi để phù hợp với mục đích giao tiếp và được xem xét trong mối quan hệ: - Giữa các yếu tố ngôn ngữ với nhau - Giữa các yếu tố ngôn ngữ với người sử dụng - Giữa các yếu tố ngôn ngữ với hoàn cảnh giao tiếp Nếu như trong hệ thống, các yếu tố ngôn ngữ mới chỉ có nghĩa thì khi đi vào hoạt động, chúng đã có thêm ý và tạo thành ý nghĩa của lời nói. 11 Thứ ba: Trong hoạt động giao tiếp, hiệu quả của việc giao tiếp tỉ lệ thuận với việc hiểu biết đối tượng giao tiếp. Sự hiểu biết này có thể cụ thể hoá ở một số mặt sau: - Hiểu biết về vị thế xã hội.
- Hiểu biết về vị thế giao tiếp. - Hiểu biết về sở thích, hứng thú, thói quen. Việc hiểu rõ đối tượng giao tiếp là rất quan trọng trong việc giao tiếp hiệu quả. Nếu không biết đối tượng mình đang nói chuyện với là ai, thì sẽ rất khó để truyền đạt thông điệp một cách chính xác và đạt được mục đích giao tiếp.Những tư tưởng này của lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ đã giúp cho chúng tôi định hướng được việc đề xuất nội dung cũng như biện pháp dạy học nói và nghe cho HSTH một cách đúng hướng và có hiệu quả.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ là một hoạt động đặc biệt có những đặc thù riêng so với các hoạt động khác. Bản chất của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ bao gồm: Sự tương tác giữa các bên: Giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn xuất hiện trong một mối quan hệ tương tác giữa người nói và người nghe. Hai bên phải liên tục tương tác với nhau để truyền tải thông tin và ý nghĩa. Tính hai chiều: Giao tiếp bằng ngôn ngữ là một hoạt động hai chiều, có nghĩa là người nói và người nghe đều có vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp.
Người nói phải diễn đạt ý nghĩa một cách rõ ràng và sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả để truyền tải thông tin, còn người nghe phải có khả năng hiểu và tương tác lại với người nói. Tính linh hoạt: Giao tiếp bằng ngôn ngữ là một hoạt động rất linh hoạt, có thể thay đổi và thích nghi với các tình huống giao tiếp khác nhau. Người nói và người nghe có thể sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt để truyền tải thông tin, ý nghĩa và cảm xúc. 12 Tính tương đối: Giao tiếp bằng ngôn ngữ là một hoạt động mang tính tương đối, điều này có nghĩa là ý nghĩa của một từ hay câu có thể thay đổi tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng.
Tính phức tạp: Giao tiếp bằng ngôn ngữ là một hoạt động phức tạp, yêu cầu người nói và người nghe có kiến thức, kỹ năng và hiểu biết sâu rộng về ngôn ngữ để có thể hiểu và truyền tải thông tin một cách chính xác và hiệu quả. Trong giao tiếp, vốn sống và vốn ngôn ngữ của người phát và người nhận thường không trùng nhau. Điều này có nghĩa là mỗi người sẽ có cách hiểu và giải thích thông tin theo cách riêng của mình. Vì vậy, việc lí giải lời nói của người nhận cũng sẽ khác với người phát.
Người phát có thể muốn truyền tải một ý nghĩa cụ thể, nhưng người nhận lại hiểu đó theo cách của mình và có thể có suy nghĩ khác với ý nghĩa ban đầu của người phát. Việc hiểu lầm hoặc sai sót trong quá trình giao tiếp xảy ra rất thường xuyên, và điều này có thể dẫn đến những tranh cãi, xung đột và sự bất đồng giữa các bên. Ngược lại, người nhận cũng cần phải lắng nghe và hiểu những gì người phát muốn truyền tải để tránh hiểu lầm hoặc sai sót. Còn trong hoạt động giao tiếp gián tiếp - giao tiếp viết - thì nhiễu lại là sự rõ ràng của đường nét, sự minh bạch trong cấu trúc câu.
Chẳng hạn, trong quá trình dạy học nói và nghe cho HS thông qua giờ làm văn miệng, GV cần hạn chế những biến thể của phương ngữ làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của HS; việc nói ngọng của HS; các hình thức tranh luận, trao đổi trong giờ học có thể gây mất trật tự. Khi nội dung truyền tải được người phát truyền đi và người tiếp nhận lí giải, khôi phục lại được nội dung đó thì một chu kỳ giao tiếp đã hoàn thành. Khi cả hai bên đều hiểu và truyền tải thông tin thành công, một chu kỳ giao tiếp đã hoàn thành. Tuy nhiên, việc hiểu và truyền tải thông tin thành công không phải lúc nào cũng dễ dàng và đôi khi có thể xảy ra các hiểu lầm hoặc sai sót trong quá trình giao tiếp.