CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1.1 Giao tiếp Giao tiếp có ý nghĩa to lớn như một năng lực quan trọng trong xã hội đương đại. Tuy nhiên, sự hiểu biết về giao tiếp khác nhau giữa các lĩnh vực khác nhau, với mỗi lĩnh vực làm nổi bật các khía cạnh cụ thể của động lực quan hệ.
Do đó, định nghĩa về giao tiếp có thể khác nhau, dẫn đến vô số quan niệm về bản chất của nó. Theo định nghĩa do từ điển Wikipedia cung cấp, giao tiếp được mô tả là quá trình truyền ý định và thông điệp từ một thực thể (dù là một cá nhân hay một nhóm) sang một thực thể khác bằng cách sử dụng các dấu hiệu, biểu tượng và các quy tắc giao tiếp đã được thiết lập mà các bên có thể hiểu được. cả hai bên liên quan. Định nghĩa này nhấn mạnh đến việc trao đổi thông tin và chia sẻ hiểu biết giữa những người giao tiếp.
Điều quan trọng là phải nhận ra rằng giao tiếp bao gồm các hình thức đa dạng và xảy ra thông qua nhiều phương tiện khác nhau, bao gồm cả phương tiện bằng lời nói và phi ngôn ngữ, ngôn ngữ viết và nói, tín hiệu hình ảnh và các kênh công nghệ. Giao tiếp hiệu quả không chỉ liên quan đến việc truyền tải thông điệp mà còn là khả năng diễn giải và hiểu các thông điệp nhận được, đảm bảo sự hiểu biết chính xác và tạo điều kiện cho sự tương tác có ý nghĩa. [13] Bhuw chúng ta đã biết, "giao tiếp liên quan đến cộng đồng, giao tiếp dựa vào cộng đồng và thực sự phát triển liên quan đến sự phát triển của văn hóa hoặc hội nhập văn hóa trong cộng đồng". Thuật ngữ giao tiếp ban đầu chỉ được sử dụng trong cộng đồng con người.
Ngô Công Hoàn ,trong cuốn "Giao tiếp sư phạm", giao tiếp là một loại mối quan hệ đặc biệt giữa con người với con người tạo ra sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các rung cảm, tác động qua lại, trao đổi thông tin và hiểu biết. Trong luận văn này đã tổng hợp thành khái niệm sau: “Giao tiếp là quá 10 trình trao đổi thông tin, tình cảm, suy nghĩ; tác động lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người nhằm đạt đến một mục đích nhất định”. Năng lực Mặc dù thuật ngữ "năng lực" đã được nhiều học giả đề cập đến, nhưng việc tìm ra một định nghĩa chung cho kỹ năng, đặc biệt là trong lĩnh vực ngôn ngữ và giao tiếp, vẫn là một thách thức. Chúng ta hiểu rằng: NL là "những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục" hay NL “là đặc tính cơ bản của một cá nhân (kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ, nét tiêu biểu và ý tưởng về bản thân) có liên quan đến các tiêu chuẩn đánh giá ”; hay NL là "tập hợp đầy đủ các kiến thức, kỹ năng làm việc, kỹ năng sống giúp thích nghi, giải quyết vấn đề và thực hiện dự án trong một tình huống nào đó" trong lĩnh vực giảng dạy phổ thông.
Theo Nguyễn Quang Uẩn (2007), NL là "tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một HĐ nhất định, đảm bảo cho HĐ đó có kết quả". [14] Theo CTGDPT 2018 của Bộ Giáo dục, khái niệm năng lực là Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép một cá nhân thực hiện thành công một loại HĐ cụ thể và đạt được kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Khái niệm NL tác giả sử dụng trong luận văn theo CTGDPT 2018 được hiểu là “thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại HĐ nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [1]. Chương trình GDPT 2018 [1] yêu cầu hình thành và phát triển cho HS những năng lực cốt lõi được chia ra làm hai loại: năng lực chung và năng lực đặc thù sau: - Tất cả các môn học và HĐ giáo dục đều hình thành và phát triển năng 11 lực chung.
Là những năng lực cơ bản, chúng làm nền tảng cho mọi HĐ của con người trong cuộc sống và nghề nghiệp, bao gồm khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, NLGT và hợp tác, tự chủ và tự học. năng lực chung Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; chúng đáp ứng nhiều loại hình giáo dục khác nhau. Tuy nhiên, nhà trường và GV sẽ hỗ trợ HS phát triển năng lực chung trong CTGDPT. [1] - Năng lực đặc thù được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và HĐ giáo dục cụ thể.
Là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung được phát triển theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình HĐ, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc biệt, cần thiết cho các HĐ chuyên biệt đáp ứng các yêu cầu hạn chế hơn Đây cũng được coi là một năng khiếu, giúp họ phát triển. [1] Ngoài việc hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình GDPT còn hỗ trợ phát hiện và bồi dưỡng các năng khiếu đặc biệt của HS. Chương trình các môn học và HĐ trải nghiệm sáng tạo sẽ thể hiện năng lực đặc biệt. Trong chương trình GDPT môn Toán 2018 yêu cầu những năng lực toán học cần đạt của HSTH bao gồm: “- Năng lực lập luận toán học và tư duy: Các kỹ thuật tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, đặc biệt hóa, khái quát hóa, tương tự, quy nạp và diễn dịch đều được HS thực hiện.
Các em HSTH có thể tìm thấy sự tương đồng và khác biệt trong những tình huống quen thuộc trong cuộc sống của họ. Tiếp theo, để giải thích hoặc điều chỉnh các vấn đề về toán học nói chung và các vấn đề trong cuộc sống nói riêng, bạn phải cung cấp cho họ chứng cứ, lý lẽ và lập luận hợp lý trước khi đưa ra kết luận. - Năng lực mô hình hóa toán học: HSTH mô hình hóa toán học, giải quyết vấn đề toán học trong mô hình vừa lập và trình bày và đánh giá lời giải trong thế giới thực. 12 - Năng lực giải quyết vấn đề toán học: HSTH nhận biết, phát hiện vấn đề toán học; lựa chọn, đề xuất giải pháp; và sử dụng các công cụ có sẵn để giải quyết vấn đề.
Theo đánh giá, một giải pháp đã được đưa ra và ý tưởng chung về vấn đề tương tự - NLG toán học: HS chuyển các thông tin toán học thành kiến thức nói hoặc văn bản. HS giải pháp toán học và truyền đạt ý tưởng. Thể hiện sự tự tin khi trình bày, giải thích và đánh giá các khái niệm toán học.” [1] Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào những vấn đề liên quan đến NLGTTH. Năng lực giao tiếp toán học 1.
Một số quan điểm Theo một nghiên cứu của Hoa Ánh Tường (2014), "việc PTNL GTTH không chỉ giúp HS phát triển bản thân NLGTTH mà còn giúp HS nâng cao năng lực toán học, giúp HS học tốt môn toán hơn" [10]. Chúng tôi thống nhất theo quan điểm của CTGDPT 2018: “Năng lực giao tiếp toán học: HS có khả năng truyền đạt kiến thức toán học thông qua văn bản hoặc lời nói. HS giải pháp toán học và truyền đạt ý tưởng. Thể hiện sự tự tin khi trình bày, giải thích và đánh giá các khái niệm toán học” [1] GV không chỉ tạo ra một môi trường học tập giúp HS lĩnh hội kiến thức toán học mà còn giúp học sinh giao tiếp tốt hơn và NLGT bằng NNTH trong giờ học toán.
Dạy học PTNL GTTH là cách thức tổ chức cho HS thực hiện các HĐ được nêu ở trên: hiểu, phân tích, đánh giá, nhận xét, vấn đề hay nội dung toán học; sử dụng ngôn ngữ và biểu diễn toán học để biểu đạt, giải thích ý tưởng của mình. Các hình thức giao tiếp toán học của HS cuối cấp tiểu học GTTH của HS cuối cấp tiểu học được thể hiện chủ yếu qua bốn hình thức sau: Giao tiếp bằng hình thức đọc: Tóm tắt lại nội dung đã đọc theo cách hiểu của mình, xác định các từ khóa chứa thông tin quan trọng trong BT và chú ý đến các từ chưa hiểu rõ cần đọc kỹ và tìm hiểu thêm. HS cần đọc đề 13 toán nhiều lần và nghiền ngẫm từng câu và từ khóa trong bài để Khi đọc, tôi đã xem xét các dữ liệu liên quan đến việc chia BT ban đầu thành các BT nhỏ hơn, như tôi đã biết trước đó. Giao tiếp bằng hình thức lắng nghe: HS biết lắng nghe và lấy thông tin cần thiết từ bài giảng của giáo viên cũng như ý kiến của bạn.
Khi sử dụng giải pháp BT, các học sinh được yêu cầu lắng nghe quan điểm của người khác để hiểu sâu sắc hơn về vấn đề được trình bày. Điều này sẽ giúp họ hiểu rõ hơn và kết nối thông qua việc nghe các lý luận khác nhau về các giải pháp. Tránh ngắt lời người nói khi họ nói về một nội dung toán học mà họ chưa biết. Nếu cần thiết, bạn có thể ghi lại những từ bạn không hiểu để hỏi lại người nói.
Người nghe cũng nên chú ý đến việc chọn lọc và tập trung vào những từ khóa quan trọng để thể hiện mục đích của người nói. Ngoài ra, người nghe nên biết khi nào phải đồng tình, khi nào phải phản bác và góp ý với những gì người nói nói. Giao tiếp bằng hình thức nói: Học sinh được khuyến khích mạnh mẽ để hỏi về các chủ đề mà họ không quen thuộc hoặc tìm hiểu sâu hơn về kiến thức mà họ yêu cầu. Điều này có thể liên quan đến việc tìm kiếm câu trả lời cho những sự thật ẩn giấu trong bài tập hoặc tìm hiểu thêm về các chủ đề cụ thể.
Các câu hỏi có thể hướng tới giáo viên, bạn bè hoặc cá nhân có kiến thức cần thiết để hỗ trợ học sinh. Thách thức nằm ở việc xây dựng câu hỏi trọng tâm, trực tiếp giải quyết nội dung học sinh cần học. Hơn nữa, học sinh cần được hướng dẫn về cách tiếp cận giải quyết vấn đề và được tạo cơ hội để bảo vệ và biện minh cho ý kiến của mình khi đối mặt với câu hỏi của giáo viên và bạn bè.